Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học. Chương 2: Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học 11 nâng cao – Trung học phổ thông. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 6 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Phƣơng hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay: [12], [13], [14] 1. Phương hướng chung. Với sự phát triển của các mạng khoa học - công nghệ tạo nên những bước nhảy vọt trong thời buổi hiện nay đã đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghệ sang kỷ nguyên thông tin và phát triển tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội hiện nay. Vì thế mà khoảng cách giữa các phát minh khoa học - công nghệ và áp dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp; kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng đa dạng, phong phú và tăng theo cấp số nhân.
Với sự phát triển của các quốc gia hiện nay thì nó càng đòi hỏi phải tăng suất lao động, năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng. Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, internet đã tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hóa, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh chóng hơn. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thệ hệ hiện nay và mai sau. Đổi mối giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó 7 z chặt chẽ với nghiên cứu khoa học- công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp.
Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển. Vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước. Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yêu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học.
Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học. Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay[12] 1. Dạy học hướng vào người học. Đây là quan điểm được đánh giá là tí ch cực vì việc dạy học chú trọng v ào người học để tì m ra phương pháp d ạy học có hiệu quả.
Có thể nhấn m ạnh một số điểm quan trọng trong phương pháp dạy học hướng vào người học như sau: - Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho học sinh thich nghi với đời sống xã hội. Tôn trọng nhu cầu, khả năng, hứng thú và lợi ích của học sinh. - Về nội dung : Chú trọng việc bồi dưỡng kĩ năng thực hành , vận dụng kiến thức, năng lực để giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn , hướng vào sự chuẩn bị kiến thức cho học sinh hòa nhậ p với xã hội. Dạy học không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động.
Khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải đối từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội. Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng; “từ 8 z học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”. - Về phương pháp: Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh ho ạt động độc lập hoặc theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích bảng số liệu…) thông qua đó học sinh v ừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được rèn luyện về phươn g pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu. Giáo viên quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể học sinh để xây dựng bài học.
Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh. Những dự kiến của giáo viên ph ải được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh và cách tổ chức các hoạt động đó, cùng với khả năng diễn biến các hoạt động của học sinh để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, thực hiện giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của học sinh , tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi em. - Về hì nh thức tổ chức dạy học : Không khí lớp học thân mật tự chủ , bố trí lớp học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học. Giáo án bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hóa , tạo điều kiện cho sự phát triển năng khiếu của từng cá nhân.
- Về kiểm tra đánh giá : Giáo viên đánh giá một cách khách quan , học sinh tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước vào một phần mới của chương trình. Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tình huống thực tế. Nội dung kiểm tra cần chú ý đến các mức độ: Tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo kết hợp với các phương tiện kĩ thuật sẽ tạo điều kiện tăng nhịp độ 9 z kiểm tra, giúp học sinh có thể thường xuyên tự kiểm tra, làm giảm nhẹ lao động chấm bài của giáo viên. - Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc sống.
Như vậy việc dạy học hướng vào người học đã đặt người học vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học, với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội, đó chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học hướng vào người học. Dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học”. - Bản chất của dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học” là định hướng người học đến việc giải quyết các vấn đề, dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích cực của người học. Sử dụng phương tiện, kĩ thuật trong dạy học đặc biệt là công nghệ thông tin, hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá.
Theo hướng đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất: + Học sinh phải hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt là hoạt động tư duy. + Dựa vào tính đặc thù của bộ môn để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng và phong phú trong giờ học. + Hướng đẫn học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập. - Học tập và sáng tạo - Vai trò mới của người giáo viên: Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của học sinh.
Để học sinh học tập tích cực tự giác cần làm cho học sinh biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân ḿ ình. Để có tư duy sáng tạo th́ phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập. Muốn vậy ngay trong bài học 10 z đầu tiên của môn học phải đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu,người khám phá. Ngược lại nhờ cách học nghiên cứu khám phá và cách học sáng tạo đó mà học sinh nắm vững kiến thức , biết sử dụng kiến thức mét cách linh hoạt rồi tiếp tục sáng tạo ra cái mới.
Cách tốt nhất để h́nh thành và phát triển năng lực nhận thức , năng lực sáng tạo của học sinh là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, h́nh thành quan điểm đạo đức.