Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ quân sự với đề tài "Nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật" do nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Minh thực hiện tại Học viện Kỹ thuật Quân sự (Hà Nội, năm 2013). Công trình thuộc nhóm chuyên ngành khoa học quân sự, tập trung vào lĩnh vực tổ chức chỉ huy kỹ thuật và quản lý đào tạo quân sự.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hệ thống giáo dục trong Quân đội nhân dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại", công tác đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật đã có nhiều đổi mới về mục tiêu, mô hình và chương trình đào tạo. Mặc dù hệ thống nhà trường quân đội đã cung cấp số lượng lớn nhân lực kỹ thuật, chất lượng thực tế vẫn còn những điểm chưa đáp ứng mong muốn. Cụ thể, khả năng thực hành của một bộ phận cán bộ khi ra trường về đơn vị còn lúng túng.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ những bất cập trong khâu huấn luyện thực hành (HLTH) tại các cơ sở đào tạo. Công tác HLTH đòi hỏi đồng bộ giữa đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm thực tế và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật (VKTBKT, trang thiết bị mô phỏng, thao trường, xưởng trạm) tiên tiến. Tuy nhiên, các trang thiết bị kỹ thuật quân sự hiện đại thường quý hiếm và đắt tiền, nhà trường chưa thể trang bị đầy đủ ngay lập tức. Trong khi các công trình trước đây chỉ tiếp cận công tác đào tạo nói chung hoặc HLTH đơn lẻ, chưa có công trình chuyên sâu giải quyết bài toán nâng cao chất lượng HLTH riêng cho đối tượng cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật (CHTMKT). Do đó, đề tài mang tính cấp thiết và không trùng lặp.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đào tạo cán bộ CHTMKT, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng HLTH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ CHTMKT.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ CHTMKT cấp chiến thuật - chiến dịch (CT-CĐ) cho quân đội trong tình hình mới.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Luận án tập trung khảo sát các yếu tố then chốt gồm: đội ngũ giảng viên tham gia quá trình HLTH; nội dung HLTH trong chương trình đào tạo; phương pháp tổ chức HLTH; hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ HLTH.
    • Không gian và đối tượng khảo sát áp dụng cho đào tạo cán bộ CHTMKT dài hạn và đào tạo cao học chỉ huy, quản lý kỹ thuật tại Học viện Kỹ thuật Quân sự cùng một số cơ sở có loại hình đào tạo tương tự.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài quân đội có liên quan trực tiếp đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý giáo dục đào tạo:

Các đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Ngành

  • Đề tài cấp Bộ Quốc phòng (2012): "Nghiên cứu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự trong tình hình mới". Đề tài xây dựng cơ sở lý luận và đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự, gợi mở hướng tiếp cận nhưng chưa đi sâu vào giải pháp nâng cao chất lượng HLTH cho cán bộ CHTMKT.
  • Đề tài cấp Bộ Quốc phòng do Học viện Kỹ thuật Quân sự thực hiện (2000): "Đổi mới và hoàn thiện đào tạo sỹ quan chỉ huy, quản lý kỹ thuật quân sự". Đề tài phân tích khâu tuyển chọn đầu vào, đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo năng lực thực hành chỉ huy quản lý nhưng dừng lại ở cấp phân đội.
  • Đề tài cấp Bộ Quốc phòng do Học viện Kỹ thuật Quân sự thực hiện (1996): "Nghiên cứu hệ thống đào tạo cán bộ nhân viên kỹ thuật quân sự trong giai đoạn mới". Đề tài giải quyết vấn đề quản lý hệ thống cấu trúc và tính hướng đích của hệ thống đào tạo nhưng chưa đưa ra các giải pháp cụ thể cho HLTH cán bộ CHTMKT.
  • Đề tài thuộc Chương trình KH cấp Bộ Quốc phòng mã số KXb (2010): "Nghiên cứu đổi mới công tác đầu tư, trang thiết bị đào tạo trong nhà trường quân đội". Đề tài phân tích định hướng đầu tư trang thiết bị, ngân sách đào tạo nhưng chưa đi sâu vào cơ sở vật chất đặc thù phục vụ HLTH cho cán bộ CHTMKT.
  • Đề tài của Nguyễn Trọng Dân và cộng sự (2008): "Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo cán bộ CHTMKT ở Học viện KTQS".
  • Đề tài do Trần Thị Bích Mai chủ trì (1997): "Xây dựng quản lý công tác phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy phục vụ yêu cầu đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam".
  • Đề tài do Bộ Tổng Tham mưu chủ trì (2000): "Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ ngành chỉ huy - tham mưu".

Các luận án tiến sĩ liên quan

  • Luận án của Nguyễn Minh Thắng (Học viện Chính trị quân sự, 2005): "Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay". Luận án tập trung vào nguồn lực cán bộ trẻ theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, cung cấp luận cứ về phát triển nhân lực.
  • Luận án của Nguyễn Học Từ (Học viện Chính trị quân sự, 1998): "Cơ sở sư phạm và những giải pháp bồi dưỡng kỹ năng tự giáo dục cho học viên cao đẳng, đại học quân sự". Cung cấp cơ sở lý luận sư phạm về tự học, tự rèn luyện.
  • Luận án của Nguyễn Văn Ly (Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006): "Nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý chất lượng đào tạo Đại học trong các học viện, nhà trường Công an Nhân dân". Luận giải mô hình quản lý chất lượng đào tạo đại học lực lượng vũ trang.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình trên đã giải quyết từng khía cạnh riêng lẻ như cơ cấu hệ thống, chương trình đào tạo chung, phát triển giảng viên hoặc đầu tư mua sắm trang thiết bị. Khoảng trống còn lại là một hệ thống lý luận và giải pháp đồng bộ, chuyên biệt nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành cho cán bộ CHTMKT cấp chiến thuật - chiến dịch, kết hợp giữa đổi mới sư phạm và ứng dụng công nghệ mô phỏng hiện đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm nền tảng

  • Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
  • Khái niệm cán bộ CHTMKT: Là bộ phận cán bộ kỹ thuật quân sự trực tiếp chỉ huy, làm công tác tham mưu - kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức triển khai công tác kỹ thuật (CTKT) tại các phân đội, cơ quan và cơ sở kỹ thuật các cấp theo Điều lệ Quản lý bộ đội và Điều lệ công tác kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Bản chất của huấn luyện thực hành: Là tổng thể các biện pháp giảng dạy và hướng dẫn người học áp dụng lý thuyết vào thực tế, gồm hai quá trình kế tiếp: hướng dẫn lý thuyết để người học nắm vững phương thức vận dụng và hướng dẫn luyện tập/áp dụng thực tế. Đây là hình thức hiện thực hóa nguyên lý "học đi đôi với hành".

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích hệ thống và lấy ý kiến chuyên gia:

  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Khảo sát tiến trình phát triển công tác đào tạo cán bộ CHTMKT từ năm 1974 đến 2012 để rút ra quy luật và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Phân tích mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình HLTH (mục tiêu, nội dung chương trình, giảng viên, phương pháp dạy học, cơ sở vật chất kỹ thuật).
  • Phương pháp toán học: Xử lý và tổng hợp các bảng biểu thống kê về số lượng khóa học, quy mô đào tạo qua các giai đoạn.
  • Phương pháp chuyên gia: Tổ chức thẩm định cơ sở khoa học, tính khả thi và hợp lý của các giải pháp đề xuất; đánh giá thử nghiệm phần mềm mô phỏng 3D phục vụ huấn luyện.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản quy phạm: Điều lệ công tác kỹ thuật QĐNDVN, Điều lệ Quản lý bộ đội, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.
  • Hồ sơ, số liệu đào tạo thực tế lưu trữ tại Học viện Kỹ thuật Quân sự từ năm 1980 đến năm 2012 (các chương trình đào tạo theo chức danh và theo học vấn).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung xác định các khái niệm cơ bản, vai trò, yêu cầu đối với cán bộ CHTMKT, phân tích lịch sử hình thành đào tạo và đặc điểm của công tác HLTH.

1. Khái quát và phân loại cán bộ kỹ thuật quân sự

Cán bộ kỹ thuật quân sự được phân loại theo chuyên ngành (quân khí, xe máy, tăng - thiết giáp, thông tin, tên lửa, pháo binh, công binh, hải quân, phòng không, không quân, tác chiến điện tử) và theo lĩnh vực công tác. Trong đó cán bộ CHTMKT giữ vai trò:

  • Tham mưu cho người chỉ huy về công tác kỹ thuật.
  • Chỉ huy các cơ quan, cơ sở kỹ thuật thuộc quyền.
  • Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nội dung công tác kỹ thuật tác chiến và thường xuyên.

Yêu cầu đối với cán bộ CHTMKT bao gồm khả năng nắm vững nghệ thuật tác chiến binh chủng hợp thành hoặc quân binh chủng; năng lực chỉ huy, quản lý, điều hành; kỹ năng thu thập và xử lý thông tin kỹ thuật chính xác phục vụ người chỉ huy ra quyết định; khả năng hiệp đồng lực lượng và triển khai các phân đội kỹ thuật trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.

2. Lịch sử đào tạo cán bộ CHTMKT (1974 - 2012)

  • Tháng 9/1974: Thành lập Tổng cục Kỹ thuật, ngành kỹ thuật quân đội trở thành hệ thống độc lập.
  • Năm 1979: Quân đội triển khai cấp phó về trang bị (chỉ huy kỹ thuật), xuất hiện nhu cầu đào tạo chính quy cán bộ CHTMKT. Ban đầu cử cán bộ đi đào tạo tại Liên Xô và Đông Âu (chương trình 2 năm, 6 tháng, 3 tháng).
  • Năm 1980: Thành lập "Ban chuyên đề Chỉ huy Kỹ thuật" trực thuộc Ban Giám hiệu Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự; mời chuyên gia Liên Xô sang biên soạn giáo trình môn "Bảo đảm kỹ thuật".
  • Tháng 5/1984: Thành lập "Khoa bồi dưỡng cấp phó chỉ huy kỹ thuật" (tiền thân của Khoa CHTMKT) tại Học viện Kỹ thuật Quân sự.
  • Tháng 9/1986: Khai giảng khóa đầu tiên đào tạo hệ 2 năm cán bộ CHTMKT cấp chiến thuật - chiến dịch.
  • Giai đoạn 1993 - 2000: Triển khai thí điểm cao học Chỉ huy Quản lý kỹ thuật (1993 - 1994) và chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp mã ngành đào tạo cao học Tổ chức chỉ huy kỹ thuật (mã số 60) từ năm học 1999 - 2000.
  • Giai đoạn 2004 - 2012: Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo trình độ Tiến sĩ chuyên ngành Tổ chức, chỉ huy kỹ thuật (mã số 62) từ năm 2004. Đã tổ chức 8 khóa với trên 30 nghiên cứu sinh, trong đó có 09 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp nhà nước.
  • Đào tạo theo chức danh: Áp dụng "Đề án 63" từ năm 2006 (đào tạo 3 vòng: Vòng 1 cấp trung đoàn 1 năm; Vòng 2 cấp sư đoàn 0,5 năm tại HV KTQS; Vòng 3 cấp chiến dịch - chiến lược 1 năm tại Học viện Quốc phòng). Đến năm học 2010 - 2011, Bộ Quốc phòng điều chỉnh đào tạo gộp 1 vòng 2 năm cho cả hai cấp trung đoàn và sư đoàn.
TT Loại hình đào tạo Thời gian đào tạo (năm) Khoảng thời gian đào tạo Nơi đào tạo Ghi chú
I Đào tạo theo chức danh
1 CHTMKT 0,5 1980 - 2011 Học viện KTQS 27 khóa
2 Chủ nhiệm kho 0,5 1980 - 2011 Học viện KTQS 21 khóa
3 CHTMKT cấp trung đoàn 2,0 1986 - 1994 Học viện KTQS 7 khóa
4 CHQLKT cấp CT-CĐ 2,0 1999 - 2007 Học viện KTQS 7 khóa
5 CHQLKT cấp CT-CĐ 1,0 2006 - 2008 Học viện KTQS 2 khóa
6 CHQLKT cấp trung đoàn 1,0 2008 - 2010 Học viện KTQS 2 khóa
7 CHTMKT cấp CT-CĐ 2,0 2010 - 2011 Học viện KTQS
II Đào tạo theo học vấn
1 ThS CHQLKT 2,0 1993 - 2000 Học viện KTQS Thí điểm
2 ThS TCCHKT 2,0 1999 - 2009 Học viện KTQS
3 ThS CHQLKT 2,0 2008 - 2010 Học viện KTQS
4 Tiến sĩ TCCHKT 3,0 2004 - 2012 Học viện KTQS 8 khóa

3. Đặc điểm của HLTH và thực trạng ứng dụng công nghệ mô phỏng

HLTH trong đào tạo cán bộ CHTMKT có tính đặc thù: không chỉ rèn luyện kỹ năng thao tác thuần túy trên vũ khí trang bị mà tập trung rèn luyện bản lĩnh chỉ huy, kỹ năng ra quyết định, tổ chức triển khai lực lượng bảo đảm kỹ thuật và xử lý các tình huống phức tạp.

Về phương tiện hỗ trợ, luận án dẫn nghiên cứu từ Đại học Tổng hợp Illinois (Mỹ) chứng minh việc sử dụng thiết bị mô phỏng trong truyền đạt bài giảng mang lại hiệu quả cao hơn khoảng 70% so với phương pháp giảng bài thông thường. Tại Việt Nam, nhiều hệ thống mô phỏng đã được áp dụng như mô phỏng phi công, tổ hợp tên lửa S-300 PMU1 (Phòng không - Không quân), mô phỏng hàng hải (Học viện Hải quân). Đáng chú ý, Trung tâm Công nghệ Mô phỏng thuộc Học viện Kỹ thuật Quân sự đã tự chế tạo thành công thiết bị mô phỏng bắn tên lửa chống tăng B-72 dựa trên việc tận dụng khối quang học Liên Xô cũ kết hợp phần mềm ghép nối tín hiệu số, nâng cao độ chân thực về địa hình và âm thanh so với bộ khí tài gốc.

Tuy nhiên, thực trạng HLTH vẫn tồn tại nhiều hạn chế: vũ khí thế hệ mới chưa có trang bị huấn luyện tương đương; giảng viên phần lớn chuyển loại từ kỹ sư chuyên ngành, thiếu kinh nghiệm thực tế chỉ huy tại đơn vị; trình độ công nghệ thông tin chưa đồng đều; nội dung khoa học quản lý ở cấp phân đội chưa được đầu tư đúng mức.


Chương 2: Cơ sở khoa học nâng cao chất lượng HLTH trong đào tạo cán bộ CHTMKT

Nội dung chương này tập trung làm rõ:

  • Hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và Quân đội về giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật quân sự trong bối cảnh mới.
  • Các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến chất lượng HLTH: sự phát triển của vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh hiện đại; sự thay đổi tổ chức biên chế; chất lượng đầu vào của học viên; trình độ sư phạm và năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ, giảng viên.
  • Phân tích thực trạng các khâu trong quy trình HLTH tại Học viện Kỹ thuật Quân sự: từ khâu lập kế hoạch, chuẩn bị giáo án, bài tập tình huống, tổ chức diễn tập thực tế đến khâu kiểm tra, đánh giá kết quả thực hành.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ CHTMKT

Luận án xây dựng và luận giải 5 nhóm giải pháp:

  1. Đổi mới chương trình đào tạo: Thiết kế chương trình theo hướng tối ưu hóa thời lượng, tăng tỷ trọng các môn học, học phần thực hành độc lập (diễn tập, triển khai trạm xưởng dã ngoại, xử lý sự cố kỹ thuật).
  2. Nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ giảng viên: Bồi dưỡng kiến thức chỉ huy tham mưu, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ thuật số; luân chuyển cán bộ, giảng viên đi thực tế tại các đơn vị chiến đấu và cơ sở sửa chữa.
  3. Lựa chọn phương pháp dạy - học thích hợp: Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tổ chức luyện tập theo vai, giải quyết tình huống mô phỏng sát thực tế chiến đấu.
  4. Đổi mới phương pháp bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật: Kết hợp giữa bảo dưỡng, khai thác trang thiết bị hiện có với việc đầu tư mua sắm có trọng điểm.
  5. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mô phỏng: Xây dựng các phần mềm mô phỏng, phân đội kỹ thuật ảo 3D nhằm bù đắp sự thiếu hụt của các trang thiết bị thực đắt tiền.

Chương 4: Kiểm tra kết quả nghiên cứu và bàn luận

  • Thẩm định bằng phương pháp chuyên gia: Luận án xin ý kiến các nhà khoa học, cán bộ chỉ huy thực tế về tính khoa học, tính khả thi và mức độ phù hợp của các giải pháp nêu tại Chương 3.
  • Ứng dụng thực nghiệm: Tác giả triển khai một phần kết quả nghiên cứu vào việc thiết kế, xây dựng phần mềm mô phỏng 3D phục vụ HLTH công tác chỉ huy tham mưu kỹ thuật, kiểm nghiệm tính hiệu quả trong việc hỗ trợ người học làm quen với các tình huống kỹ thuật chiến dịch, chiến thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về công tác huấn luyện thực hành trong đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu kỹ thuật cấp chiến thuật - chiến dịch.
  • Xác định rõ các tiêu chí, yêu cầu đặc thù về năng lực thực hành của người cán bộ CHTMKT trong bối cảnh chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Đóng góp về thực tiễn

  • Tổng kết toàn diện lịch sử và kết quả đào tạo cán bộ CHTMKT tại Học viện Kỹ thuật Quân sự qua hơn 30 năm (1980 - 2012) trên cả hai diện: đào tạo theo chức danh và đào tạo theo học vấn.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp đồng bộ có tính ứng dụng thực tế cho các học viện, nhà trường quân đội.
  • Xây dựng phần mềm mô phỏng không gian 3D ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy thực hành các bài tập chuyên ngành chỉ huy tham mưu kỹ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi đào tạo cán bộ CHTMKT cấp chiến thuật - chiến dịch dài hạn và cao học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự; chưa bao quát toàn bộ các đối tượng ngắn hạn hoặc các trường kỹ thuật quân chủng chuyên biệt. Do kinh phí và điều kiện bảo mật, việc thử nghiệm mô phỏng 3D mới dừng lại ở một số nội dung tình huống điển hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu chuẩn hóa hệ thống học liệu số, tích hợp các phần mềm mô phỏng đa nhiệm cho nhiều chuyên ngành kỹ thuật công nghệ cao khác và hoàn thiện quy trình kiểm tra, đánh giá kỹ năng thực hành tự động trên nền tảng số.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà trường, học viện quân đội: Cung cấp tài liệu tham khảo để đổi mới khung chương trình, giáo trình HLTH, xây dựng tiêu chuẩn năng lực giảng viên và quy hoạch phòng thí nghiệm, trung tâm mô phỏng.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Tổ chức chỉ huy kỹ thuật: Là nguồn tư liệu hệ thống về lịch sử phát triển ngành, phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục quân sự.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Kỹ thuật): Làm cơ sở tham khảo trong việc xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ kỹ thuật gắn liền với quy hoạch trang bị vũ khí kỹ thuật mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Cán bộ CHTMKT khác biệt như thế nào so với cán bộ kỹ thuật thuần túy?

Cán bộ kỹ thuật thuần túy tập trung vào khai thác, bảo dưỡng, sửa chữa trang bị kỹ thuật cụ thể. Cán bộ CHTMKT ngoài năng lực chuyên môn kỹ thuật còn phải có năng lực tham mưu cho người chỉ huy, năng lực tổ chức, điều hành toàn bộ công tác kỹ thuật, hiệp đồng lực lượng và triển khai các phân đội kỹ thuật trong tác chiến.

2. Sự hình thành đào tạo cán bộ CHTMKT tại Việt Nam bắt đầu từ mốc thời gian nào?

Nhu cầu đào tạo cán bộ CHTMKT xuất hiện rõ nét từ năm 1979 khi quân đội triển khai chức danh cấp phó về trang bị. Đến năm 1980, Ban chuyên đề Chỉ huy Kỹ thuật được thành lập tại Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, mở đầu cho công tác đào tạo chính quy trong nước.

3. Đề án 63 trong đào tạo cán bộ CHTMKT được triển khai theo mô hình nào?

Đề án 63 triển khai từ năm học 2006 - 2007 theo mô hình 3 vòng đào tạo sau đại học: Vòng 1 (cấp trung đoàn, 1 năm tại Học viện KTQS), Vòng 2 (cấp sư đoàn, 0,5 năm tại Học viện KTQS), Vòng 3 (cấp chiến dịch - chiến lược, 1 năm tại Học viện Quốc phòng). Mô hình này thực hiện được 2 khóa trước khi điều chỉnh lại vào năm 2010.

4. Tại sao luận án nhấn mạnh việc ứng dụng thiết bị mô phỏng trong HLTH?

Do trang thiết bị kỹ thuật quân sự hiện đại rất đắt tiền và quý hiếm, việc huấn luyện thực tế trên vũ khí thật bị hạn chế. Thiết bị mô phỏng (như hệ thống mô phỏng B-72, S-300) giúp tạo lập môi trường sát thực tế, nâng cao hiệu quả tiếp thu lên khoảng 70% so với phương pháp truyền thống và tiết kiệm chi phí.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Minh đã giải quyết vấn đề cấp thiết về nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật quân đội. Tác giả đã hệ thống hóa chặng đường hơn 30 năm đào tạo tại Học viện Kỹ thuật Quân sự, chỉ rõ những bất cập về nội dung, phương pháp giảng dạy và cơ sở vật chất kỹ thuật. Hệ thống 5 nhóm giải pháp cùng việc ứng dụng phần mềm mô phỏng 3D được đề xuất có giá trị thực tiễn phục vụ công tác giáo dục đào tạo và xây dựng quân đội trong tình hình mới.