đặt vấn đề tái cấu trúc hệ thống NHTM tại Việt Nam không phải là vấn đề quy mô ngân hàng mà trƣớc hết là năng lực quản trị, hệ thống công nghệ và hệ thống quản trị rủi ro mà đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng. Ngoài ra bài viết còn cho rằng vấn đề đặt ra trƣớc tiên là phải áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế trong việc phân loại tài sản và trích lập dự phòng rủi ro. Đây là vấn đề mấu chốt giúp cho việc hạch toán nợ xấu chính xác và đo lƣờng rủi ro tín dụng chuẩn xác hơn, trên cơ sở đó mới có biện pháp xử lý rủi ro tín dụng tốt hơn. Bài viết “Hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam ”, tác giả Thạc sĩ Đƣờng Thị Thanh Hải trên tạp chí Thị trƣờng tài chính tiền tệ số 7 ra tháng 4/2013.
Bài viết đề cập đến vấn đề các NHTM phải quan tâm và hiểu rõ rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Việc đánh giá đúng thực trạng rủi ro tín dụng để tìm ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro là một yêu cầu cấp thiết, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Bài viết này đƣa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng đối với các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Những bài viết, công trình nghiên cứu ở trên, đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đề tài mà tác giả nghiên cứu.
Tuy nhiên vào mỗi thời kỳ, công tác quản trị rủi ro tín dụng cần đƣợc các ngân hàng nhìn nhận lại và đƣa ra những chính sách, giải pháp phù hợp với tình hình mới. Do đó, vào mỗi thời kỳ, lại cần có những nghiên cứu mới để phù hợp với tình hình thị trƣờng, giúp các ngân hàng có những giải pháp hữu hiệu hơn trong tình hình mới. Vì vậy, tôi chọn đề tài này với mong muốn có thể góp phần hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về tín dụng và rủi ro tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Mặc dù có những khái niệm về tín dụng khác nhau nhƣng có thể nêu một cách tổng quát: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” [Saunders, 1999, tr. Theo Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 quy định: “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng .”,“ Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Tín dụng ngân hàng có hai đặc trƣng cơ bản: Một là: sự tin tƣởng, tín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng; Hai là: tính thời hạn và hoàn trả. Vì vậy, khi một trong hai đặc trƣng bị vi phạm sẽ dẫn tới rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Nhƣ vậy, bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời có hoàn trả về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng; mối quan hệ tín dụng này lại đƣợc thể hiện dƣới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Trong thực tế, cho vay (tín dụng bằng tiền) là hoạt động tín dụng quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng thƣơng mại (NHTM).
Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thƣờng đƣợc thay thế và đan xen cho nhau. Tín dụng đƣợc coi là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM vì phần lớn lợi nhuận của nhân hàng thu đƣợc từ hoạt động này. Theo thống kê, có khoảng 60% tới 75% thu nhập của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn.
Nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng (RRTD) chiếm đến 70% tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận đƣợc là bản chất của ngân hàng. Cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Volker cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng nhƣ sau: Theo Thomas P.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ”. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện cả về số lƣợng và thời hạn”. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN, ngày 21 tháng 1 năm 2013, rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, RRTD có thể đƣợc hiểu là những tổn thất tiềm tàng có thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng của mình một cách đầy đủ hoặc đúng hạn. Xét về khía cạnh của ngân hàng, RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trƣờng của vốn, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến phá sản. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ tín dụng và từ khái niệm cũng nhƣ dấu hiệu của rủi ro tín dụng, có thể thấy những đặc điểm sau: - Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trƣớc hết là trong quá trình sử dụng vốn của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khách hàng. Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thƣờng biết sau cũng nhƣ biết không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng. Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trƣng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng thể hiện rõ ràng. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng Thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng nhƣ các nhà ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức phù hợp và đạt đƣợc lợi nhuận tƣơng ứng.
Do không thể có đƣợc thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng đi vay, bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với các ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, rủi ro biểu hiện thành nhiều loại khác nhau. Vì vậy, tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà có các tiêu thức phân loại rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, luận văn xin đƣợc đƣa ra các loại rủi ro tín dụng theo những tiêu chí sau: * Phân loại theo nguồn gốc hình thành rủi ro - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch gồm 3 rủi ro chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và việc xử lý các khoản nợ xấu.
- Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng.