Chương 1 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THỜI KỲ 1996 - 2001 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục đại học thời kỳ 1996 - 2001 1. Một số vấn đề lý luận 1. Một số khái niệm - Giáo dục: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” [46, tr.
Về bản chất, giáo dục là hiện tượng truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ con người. Về mục đích, giáo dục là sự định hướng của thế hệ đi trước đối với sự phát triển của thế hệ tiếp theo. Về phương thức đối với mỗi cá nhân, giáo dục là cơ hội để học hỏi, tiếp thu và thành đạt, tránh được những mò mẫm, vấp váp, đối với nhân loại giáo dục là phương thức để bảo tồn và phát triển kho tàng tri thức văn hóa xã hội [74, tr. - Đại học: (Theo tiếng Anh, ĐH: University) là bậc học chuyển tiếp lên cấp kiến thức cao hơn của bậc phổ thông trung học.
Theo Luật GDĐH năm 2012: “ĐH là cơ sở GDĐH bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường ĐH, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của GDĐH” [64, tr. ĐH là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, là nơi sản sinh ra tri thức mới, tư duy mới, thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức, góp phần tạo ra bước nhảy vọt về khoa học - công nghệ, sản xuất kinh doanh. Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Điều 42) khẳng định: 11 Cơ sở giáo dục đại học bao gồm: a) Trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng; b) Đại học, trường đại học, học viện (gọi chung là trường đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép. Viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép [63, tr.
- Đảng lãnh đạo:Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” [34, tr.
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đại học - C.Ănghen đã đánh giá cao vai trò của sự nghiệp GD - ĐT và coi đó là một nhiệm vụ bắt buộc đối với hết thảy mọi người. “Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ” [54, tr. “… Bộ phận giác ngộ nhất trong giai cấp công nhân cũng nhận thức rất rõ ràng tương lai của giai cấp họ và do đó, tương lai của cả loài người, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục 12 thế hệ công nhân đang lớn lên” [54, tr. Các ông còn đề ra chế độ “giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em” [54, tr.30]; giáo dục toàn diện cả “trí dục”, “thể dục” và “dạy kỹ thuật bách khoa” [54, tr.
- Kế thừa và phát triển những quan điểm của Mác - Ăngghen về giáo dục, V.Lênin nhấn mạnh, phải chỉ cho mọi người thấy rõ rằng việc nâng cao trình độ văn hoá và giáo dục kỹ thuật là hoàn toàn cần thiết cho toàn bộ công cuộc kiến thiết đất nước. Phải coi nhiệm vụ nâng cao văn hoá giáo dục là trung tâm của toàn bộ công tác tuyên truyền của công tác Đảng, của công tác giảng dạy và huấn luyện. Người đề ra khẩu hiệu: Học, học nữa, học mãi và nhấn mạnh “Nhiệm vụ của thanh niên nói chung và của Đoàn thanh niên cộng sản và các tổ chức khác nói riêng, có thể tóm gọn bằng một từ. Nhiệm vụ đó là: “học tập”” [49, tr.
Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết tri thức và tính chủ động sáng tạo của quần chúng; bồi dưỡng kiến thức văn hoá, khoa học, kỹ thuật và những kiến thức về quản lý cho công nhân, nông dân, tạo thêm điều kiện để đào tạo một đội ngũ trí thức từ công nông, lấy thế hệ trẻ, con em của công nông là đối tượng để GD - ĐT. Thực hiện chủ trương của Đảng, của V.Lênin, ngành ĐH Xôviết phát triển mạnh, thu hút hàng triệu sinh viên, góp phần hình thành một đội ngũ trí thức mới đóng góp xứng đáng vào phát triển nước Nga Xôviết. - Hồ Chí Minh sớm nhận thấy vai trò của GD - ĐT đối với sự phát triển của đất nước. Trong bản Yêu sách Tám điểm gửi tới Hội nghị Véc xây 1919, Người yêu cầu chính quyền thực dân phải mở trường học cho nhân dân bản xứ tự do học tập.
Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc: Nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Ngay từ năm 1941 khi xây dựng chương trình Việt Minh, Người đã yêu cầu: 1. Huỷ bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dựng nền quốc phòng giáo dục.
Cưỡng bức giáo dục từ bậc sơ học. Mỗi dân tộc có quyền dùng 13 tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục dân tộc mình; 2. Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài; 3. Khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được phát triển tài năng của họ; 4.
Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân làm cho nòi giống ngày càng thêm mạnh [55, tr. Hồ Chí Minh xem giáo dục là một trong những khâu quan trọng nhất của việc đào tạo nhân tài, phát triển nguồn nhân lực, góp phần trực tiếp vào tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc và thời đại. Người tài thời nào cũng cần, nhưng muốn có số lượng lớn phải nhờ vào công tác giáo dục, nhất là GDĐH. Người khẳng định chỉ có nền giáo dục cách mạng mới có thể giáo dục, bồi dưỡng và đào tạo những người có ý thức cách mạng, đó là những con người mới xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục không chỉ có vai trò truyền bá kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa mà còn có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người, cải tạo con người. “Một người cách mạng hoạt động và học tập cho đến phút cuối cùng, không bao giờ tiêu cực” [57, tr. Tư tưởng của Người là giáo dục hình thành và phát triển nhân cách con người, trên cơ sở đó việc phát triển giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; giáo dục nhằm phát triển con người bền vững, phát triển KT - XH. Giáo dục được xem là phương tiện định hướng con người theo một chủ đích nhất định, hướng con người đến với chân - thiện - mỹ.
Hồ Chí Minh cho rằng, người giáo viên phải giỏi về chuyên môn và thuần thục về phương pháp giảng dạy. Người nói: Phải từ mục đích của giáo dục, nội dung của giáo dục sau đó tìm ra cách dạy. Theo đó, phương pháp dạy ở cấp ĐH là phải phát huy tính dân chủ trong sinh hoạt học thuật, tăng cường thảo luận, trao đổi để kích thích tư duy sáng tạo của người học. Người phê bình: “Vì thiếu người giảng nên khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước.
Dạy không được chu 14 đáo…rút cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang” [56, tr. Vì vậy, trước hết phải xây dựng đội ngũ người giáo viên đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Một số vấn đề thực tiễn 1. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm tốc độ phát triển và có chất lượng của nền kinh tế, là động lực phát triển, có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung.
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển và tiềm lực khoa học, công nghệ còn ở trình độ thấp. Muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển GDĐH là yêu cầu tất yếu và cấp bách. Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12/1996) khẳng định: “Nhận thức sâu sắc giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư cho sự phát triển” [26, tr.
Kinh nghiệm giáo dục đại học ở một số nước - Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực từ môi trường GDĐH. Xuất phát từ việc xác định nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển chỉ có thể trông chờ vào con người. Chính phủ Nhật đặc biệt chú trọng tới GD - ĐT, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu.