phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của luận văn - Chƣơng 2: Thực trạng về đổi mới công nghệ, quy trình nghiệp vụ và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng liên doanh Việt Nga - Chƣơng 3: Đổi mới công nghệ theo hƣớng tự động hóa quy trình nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng liên doanh Việt Nga 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Công nghệ và đổi mới công nghệ 1. Khái niệm công nghệ Công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành và phát triển xã hội loài ngƣời. Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó đƣợc ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu.
Thuật ngữ technology trong tiếng Anh có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật. Trong tiếng Việt, công nghệ thƣờng đƣợc hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc, do đó công nghệ thƣờng mang nghĩa tính từ của thuật ngữ nhƣ: Quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ. Có quan niệm cho rằng: “Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh ”, theo đó, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Có quan niệm khác: Công nghệ dùng để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả nghiên cứu khoa học ứng dụng, là sự phát triển của khoa học trong thực tiễn, nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con ngƣời.
Mặc dù đã đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, nhƣng việc đƣa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chƣa thống nhất. Xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đƣa ra, định nghĩa khái quát về công nghệ là cần thiết, bởi vì không thể quản lý đƣợc công nghệ khi chƣa biết nó là gì. Công nghệ đƣợc thể hiện ở công nghệ về sản phẩm và công nghệ về quy trình sản xuất. Công nghệ về sản phẩm đƣợc hiếu là những tri thức hay sáng kiến/sáng tạo đƣợc thể hiện trong một sản phẩm.
Còn, công nghệ về quy trình sản xuất là những bí quyết gắn với quy trình sản xuất ra sản phẩm nói chung. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong nền kinh tế thị trƣờng, với cƣơng vị là sản phẩm trí tuệ, công nghệ là một hàng hoá đặc biệt, có các đặc thù cơ bản nhƣ: Đó là hàng hoá vô hình; mang đặc điểm của một số hàng hóa công; có tác động lan tỏa; rất khó xác định đƣợc giá cả thực của sản phẩm công nghệ theo cơ chế thị trƣờng. Tiếp theo, có bốn khía cạnh cần phải nêu rõ trong định nghĩa về công nghệ, đó là: - Công nghệ là máy biến đổi - Công nghệ là một công cụ - Công nghệ là kiến thức - Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó. Xuất phát từ các khía cạnh trên, chúng ta thừa nhận định nghĩa về công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) đƣa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dựng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ đó bao gồm: - Công nghệ là một quy trình sản xuất nhằm biến đổi các sản phẩm ở đầu ra sẽ có giá trị cao hơn giá trị sản phẩm của đầu vào. Nó bao gồm cả những thiết bị kỹ thuật trong quy trình (Technoware). - Công nghệ là một sản phẩm, nó có mối quan hệ chặt chẽ với con ngƣời (Humanware), và cơ cấu tổ chức (Orgaware).
- Công nghệ không đơn thuần chỉ là các vật thể mà đặc trƣng là kiến thức. Việc sử dụng công nghệ đòi hỏi con ngƣời cần phải đƣợc đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó (Inforware).Hoặc có thể diễn đạt theo cách khác, đó là công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: + Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh.); + Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.); 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phƣơng pháp, dữ kiện thích hợp. đƣợc mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu.); + Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phƣơng tiện truyền bá, công ty tƣ vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp. Tại Việt Nam trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) đƣa ra khái niệm công nghệ: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Trong Luật Chuyển giao công nghệ (2006) khái niệm công nghệ đƣợc hiểu là: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Trong phạm vi đề tài Luận văn, khái niệm công nghệ đƣợc hiểu: Là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, các loại công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện, tư liệu sản xuất và các tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) dừng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn. - Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phƣơng tiện vật chất nhƣ các trang thiết bị, máy móc, công cụ, phƣơng tiện vận chuyển, nhà xƣởng.
Dạng hàm chứa này của công nghệ đƣợc gọi là Phần thiết bị - Technoware (T). Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware). - Công nghệ hàm chứa trong con ngƣời, nó bao gồm mọi n ă n g l ự c c ủ a c o n n g ư ời về công nghệ nhƣ: Kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính sáng tạo.mà các kỹ năng chỉ có thể có đƣợc qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn. Dạng hàm chứa này của công nghệ đƣợc gọi là Phần con ngƣời của công nghệ - Humanware (H).
- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức đƣợc tƣ liệu hóa nhƣ: Các lý thuyết, các khái niệm, các phƣơng pháp, các thông số, công thức, các bản vẽ kỹ thuật, bí quyết.Dạng thức này của công nghệ đƣợc gọi là Phần thông tin - Inforware (I). 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tô chức của công nghệ, nhƣ cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết.Đây là Phần tổ chức của công nghệ Organware (O). Khái niệm đổi mới công nghệ Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời đã trải qua nhiều giai đoạn, trong đó mỗi giai đoạn thƣờng gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một hoặc nhiều loại hình công nghệ đặc trƣng quyết định sự phát triển của xã hội ở giai đoạn đó. Nhƣ vậy, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có sự ra đời của công nghệ mới thay thế cho công nghệ cũ.
Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đối công nghệ và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ. Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật KH&CN và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này, mặc dù trong Luật có cụm từ “đổi mới công nghệ” liên quan đến Chƣơng trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia. Theo Keith Pavitt (2003)1 quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra các cơ hội cho một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình mới dựa trên các tiến bộ kỹ thuật hoặc dựa trên sự thay đổi của nhu cầu thị trƣờng hoặc của cả hai yếu tố đó. Keith Pavitt nhấn mạnh rằng cơ sở cho việc đổi mới là các tiến bộ kỹ thuật và sự thay đổi của nhu cầu thị trƣờng.
Điều đó nói lên rằng mục đích của việc đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ hay quá trình đáp ứng sự thay đổi của thị trƣờng. Định nghĩa của OECD (1997)2 theo một nghĩa rộng hơn: “Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình (Technological product and process innovations) 1 Keith Pavitt (2003), The process of innovation, Hardvard Business Review, Hardvard Business School Press, paper No89. 2 OECD: Proposed Guidelines for Collecting and Interpreting Technological Innovation Data, - Oslo Manual; Paris, 1997. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - TPP là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đổi với sản phẩm và quy trình.
Đổi mới TPP được thực hiện nếu đổi mới đỏ đã được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình). Đổi mới TPP gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại ”. Quan niệm khác cho rằng, đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội. Theo quan điểm này, một sự thay đổi dù rất nhỏ cũng đƣợc coi là đổi mới công nghệ, thực ra các hoạt động này đƣợc coi là cải tiến công nghệ thì chính xác hơn.
Nhƣng hệ thống công nghệ mà chúng ta đang sử dụng có tính phức tạp và đa dạng cao, có khi chỉ để cho ra đời một loại sản phẩm đã có thể dùng rất nhiều loại công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả mọi loại thay đổi nhỏ về công nghệ đều là đổi mới công nghệ, thì việc quản ỉý đổi mới công nghệ là điều không dễ dàng. Bởi vậy, khi nói đến đổi mới công nghệ, chúng ta nên tập trung vào những thay đổi cơ bản trong hệ thống công nghệ.