Chương 1 TỔNG QUAN VỂ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI H ổ i 1. NGOẠI HỐI VÀ NHỮNG HẠN CHÊ VÊ NGOẠI HỐI. Khái niệm về ngoại hối và các giao dịch ngoại hối. Khái niệm ngoại hối.
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền sản xuất hàng hoá, nhíu cầu rnở rộng giao lưu thương mại không chỉ dừng lại ở phạm vi một quốc gia mà ngày càng đòi hỏi mở rộng trên phạm vi toàn cầu; để thúc đẩy hoạt động thương mại trên thế giới, các phương tiện thanh toán quốc tế ngày càng được hoàn thiện, bên cạnh các phương tiện chi trả cổ điển như vàng, bạc, các phương tiện thanh toán hiện đại đã được các quốc gia chấp nhận và đưa vào sử dụng. Các phương tiện thanh toán, dự trữ quốc tế này được gọi chung là ngoại hối. Tuy nhiên, trên các bình diện khác nhau, khái niệm ngoại hối cũng không hoàn toàn đồng nhất. Một sô nhà kinh tê cho rằng ngoại hối là nhũng phương tiện thanh toán, dự trữ quốc tế được thể hiện dưới dạng ngoại tệ không bao gồm vàng, kim khí quí, đá quí.
Một số khác thừa nhận vàng, kim khí quí, đá quí là bộ phận trong khái niệm ngoại hối. Nhìn chung sự khác biệt đó phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh cụ thể về mức độ phát triển của nền tài chính, tiền tệ của từng quốc gia. Thông thường đối với các nước có đồng nội tệ yếu, khả năng chuyển đổi thấp, dân chúng có thói quen ưa chuộng sử dụng vàng trong cất trữ, thanh toán, vai trò tiền tệ của vàng vãn còn đậm nét thì trong khái niệm ngoại hối vẫn thừa nhận có vàng, kim khí quí, đá quí. Tuy nhiên, ngày nay vai trò tiền tệ của vàng đã lùi vào dĩ vãng và hiện tại để đáp ứng sự phát triển không ngừng của công nghệ ngân hàng, hiện đại hoá công 4 nghệ thanh toán thì khái niệm ngoại hối theo xu hướng hiện đại thường không bao gồm vàng, bạc, đá quí.
Tại nước ta, khái niệm ngoại hối được đề cạp trong Thông tư số 01//TT- NHNN7 ngày 16/4/1999 của NHNN hướng dẫn Nghị định số 63/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về Quản lý ngoại hối như sau: Ngoại hối bao gồm : - Cấc đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được luu hành dưới các hình thức tiền giấy, tiền kim loại; - Công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như : séc, hối phiếu,thê thanh toán và các công cụ thanh toán khác; - Các loại giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài như: trái phiếu Chính phủ, trái phiêu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác. - Quyền rút vốn đặc biệt là đồng tiền do Quĩ tiền tệ quốc tế phát hành dùng để dự trữ và thanh toán quốc tế cho các nước hội viên,được ký hiệu là "SDR"; - Đồng tiền chung Châu Âu là đổng tiền chung của các nước thuộc cộng đồng Châu Âu dùng để dự trữ và thanh toán giữa các nước thành viên đó* - Các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực. - Vàng tiêu chuẩn quốc tế; - Đồng tiền đang lưu hành của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Đồng Việt Nam) trong trường họp chuyển vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng làm công cụ trong thanh toán quốc tế. Các giao dịch ngoại hôi.
Các giao dịch ngoại hối là các giao dịch có liên quan đến hoạt động mua, bán, vay, cho vay, bảo lãnh, các hoạt động đầu tư và các giao dịch khác về ngoại hối. Các hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế rất đa dạng, phong phú, do đó đế quản lý được luồng chu chuyển ngoại hối vào và ra khỏi một quốc gia 5 cũng như việc sử dụng ngoại hối trong nước phục vụ cho công tác hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ (đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển và kém phát triển), các nhà kinh tế thường phân loại các hoạt động ngoại hối theo các tiêu chí chung được thể hiện trong báo cáo thường niên của IMF về các qui định ngoại hối và các han chê ngoại hối. Các hoạt động ngoại hối liên quan đến giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú, thể hiện ở các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và các giao dịch ngoại hối trong phạm vi một quốc gia. Giao dịch vãng lai.
Là các giao dịch ngoại tệ giữa Người cư trú và Người không cư trú về xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ (thể hiện ở các khoản thu, chi), thu nhập từ đàu tư trực tiêp, thu nhập từ đầu tư vào các giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi ở nước ngoài, chuyển tiền một chiều và các giao dịch khác liên quan đến các hạng mục của cán cân vãng lai. Trong các giao dịch vãng lai thì giao dịch mua bán, thanh toán xuất nhập khâu có vai trò quan trọng, nó phản ánh tình hình cán cân thương mại cua một quốc gia, bội thu hoặc bội chi và có tác động ảnh hưởng đến tình hình cung câu ngoại tệ trong nên kinh tế. Do đó, trong điều kiên nền kinh tê căng thẳng về cung cầu ngoại tệ, một số nước áp dụng biện pháp "kết hối" đối với nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu (qui định bắt buộc phải bán một phần hoặc toàn bộ nguồn thu từ xuất khẩu). Ngoài ra, giao dịch chuyển tiền một chiều dưới các hình thức chuyển tien kiêu hôi, chuyên tiên cho các mục đích du học, trợ cấp thân nhân hoặc cho mục đích định cư cũng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.
Giao dịch vốn. La cac giao dich chuyên vốn vào và ra khỏi một quốc gia trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào các giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho 6 vay và thu hồi nợ nước ngoài, các hình thức đầu tư khác làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ giữa Người cư trú và Người không cư trú. Dòng vốn trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp thường có tính ổn định tương đối, do đó các nước đang phát triển và kém phát triển thường có những chính sách nhằm thu hút tối đa trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào các giấy tờ có giá lại có tính nhạy cảm cao với những biến động kinh tế, chính trị; Do đó, rất dễ bị đảo chiều với sự rút vốn ổ ạt, dễ gây ra những cú "sốc" cho nền kinh tế.
Vì vậy, các nước đang và kém phát triên luôn có có qui định chặt chẽ để quản lý, hạn chế tác động xấu của luồng vốn gián tiếp đến nền kinh tế. Các giao dịch ngoại hối trong phạm vi một quốc gia. Thông thường các giao dịch ngoại hối trong một quốc gia thường đề cập đên những vấn đề về quyền sở hữu, mua, bán và phạm vi sử dụng ngoại tệ của Người cư trú, việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ của Người cư trú và Người không cư trú. Hoạt động ngoại hối của các Ngân hàng thương mại như mua bán ngoại tệ, vay, cho vay ngoại tệ trong nước và việc thực hiện các qui định về trạng thái ngoại tệ.
Đối với các nước đang và kém phát triển, khi đồng bản tệ chưa có khả năng chuyển đổi và luôn phải đối mặt với sự biến động của tỷ giá, lạm phát cao luôn đe doạ, thì việc sử dụng ngoại tệ làm công cụ cất trữ, thanh toán rất phổ biên dẫn đên tình trạng Đôla hoá nền kinh tế. Các hạn chê đối với giao dịch ngoại hối theo tiêu chí của IMF. Các nước tuỳ theo mức độ phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ nói riêng và của nền kinh tế nói chung đều có những qui định về một số hạn chế đối với giao dịch ngoại hối. Đối với các nước phát triển với chính sách tự do hoá thương mại, dịch vụ và đầu tư thì các giao dịch ngoại hối căn bản được tự do hoá, các hạn chê ngoại hối được dỡ bỏ gần như hoàn toàn; nhưng vẫn tồn 7 tại một số hạn chế ngoại hối liên quan đến những vấn đề như mang ngoại tệ khi xuất nhập cảnh với mục đích chống rửa tiền hoặc những hạn chế về thanh toán, đầu tư liên quan đến lý do an ninh quốc phòng, lý do chính trị.
Ịjt Đối với các nước kém hoặc đang phát triển, nhu cầu ngoại tệ để trang bị cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ luôn lớn hơn nguồn thu từ xuất khẩu; Cán cân thương mại thường xuyên trong tình trạng bội chi và phải tài trợ bằng nguồn vay nước ngoài. Trong bối cảnh đó, cần phải áp dung các hạn chế ngoại hối nhằm thu hút nguồn ngoại tệ vào và hạn chế nguồn ngoại tệ ra và kiểm soát các giao dịch vay trả nợ nước ngoài nhằm góp phần ổn định tỷ giá và hỗ trợ cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Các hạn chê ngoại hối đối với các nước này được qui định bằng hệ thống các văn bản pháp lý cùng với các qui định về quyền và phạm vi sử dụng ngoại hối được gọi là chính sách quản lý ngoại hối. Để có những thông tin cần thiết về cơ chế quản lý ngoại hối và cơ chế tỷ giá của các nước thành viên, Quĩ tiền tệ Quốc tế (IMF) hàng năm biên soạn và phát hành Báo cáo thường niên về các hạn chế ngoại hối và chế độ tỷ giá; Trong đó mô tả những nét khái quát về những hạn chế liên quan đến ngoại hối và chế độ tỷ giá theo những tiêu chí chung sau: 1.
N h ữ n g h ạ n c h ê liên q u a n đ ế n cá c g ia o d ịch v ã n g lai. C hế độ thanh toán và nhận thanh toán Tuỳ từng trường hợp, trong phần này có các qui định về đồng tiền, bản chất của các chế độ thanh toán, tổ chức kiểm soát, hạn chế liên quan đến an ninh quốc tế và các kiểm soát đối với mua bán vàng, tiền giấy, mua bán nội tệ và ngoại tệ. Qui định về đồng tiền mô tả các qui định ảnh hưởng đến việc lựa chọn đồng tiền và phương pháp thanh toán đối với các giao dịch với các nước khác. Khi một nước đã ký kết hiệp định thanh toán với các nước khác, những điều kiện của các Hiệp định thường bao gồm các nội dung qui định về đồng tiền 8 thanh toán và các hình thức thanh toán với nước liên quan.