Chương 1 ĐẶC ĐIỂM CƯ TRÚ, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI, VĂN HÓA VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH KIÊN GIANG 1. ĐẶC ĐIỂM CƯ TRÚ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở KIÊN GIANG Kiên Giang là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam đất nước với bờ biển dài 200 km, đường biên giới 56,8 km giáp Vương quốc Campuchia, phía đông và đông nam giáp tỉnh An Giang và tỉnh Cần Thơ, phía nam giáp tỉnh Cà Mau, phía tây giáp Vịnh Thái Lan. Kiên Giang là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích tự nhiên là 6.245 km2 trong đó đất nông nghiệp 388.000 ha, đất lâm nghiệp 220.000 ha; dân số 1.000 người, mật độ bình quân 243 người/km2.
Kiên Giang là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, dân tộc kinh chiếm 84,6%, dân tộc Khơ-me chiếm 12,98%, dân tộc Hoa chiếm 2,16%, ngoài ra còn các dân tộc Tày, Nùng. Kiên Giang chia thành bốn vùng kinh tế: Vùng tứ giác Hà Tiên, vùng sông Hậu, vùng bán đảo Cà Mau, vùng biển Hải Đảo. Có thể nói rằng, cách đây vài ba thế kỷ, cha ông ta đã dày công khai phá vùng đất hoang vu xưa kia, xây đắp nên vùng đất Nam Bộ trù phú tươi đẹp ngày nay, trong đó tỉnh Kiên Giang là một tỉnh thuộc vùng đất cực Tây Nam Bộ. Tỉnh Kiên Giang gồm một nửa đất liền, một nửa còn lại là đảo, phần đất liền là lưu vực của các kênh, rạch, sông Cái Lớn, sông Cái Bé.
Vốn là một nửa của dải đất sông Hậu và biển tạo thành đồng bằng của các sông thuộc các huyện như: huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện Châu Thành là vùng đất phù sa mầu mỡ. 7 Trước kia vốn được nói tới là vùng đất "làm chơi ăn thật", phía Nam tỉnh Kiên Giang từ sông Cái Lớn trở xuống bán đảo Cà Mau là những cánh rừng tràm bát ngát với các "sân chim", "vườn chim, máng chim" nổi tiếng. Về phần đảo, có trên 100 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc ở vùng biển phía Tây Nam tỉnh Kiên Giang. Cách bờ biển Hà Tiên 45 km, cách thị xã Rạch Giá 115 km; phần đảo và các núi đá xung quanh thị xã Hà Tiên chủ yếu là núi đá vôi, đá hoa cương và nhiều loại đá quý.
Nhìn trên bản đồ hành chính, tỉnh Kiên Giang có hình dáng như chiếc thước thợ (chữ L). Về địa lý là một tỉnh có nhiều nét khá độc đáo; bởi lẽ có rừng, đảo, biển, đồng bằng, núi; các sông, kênh, rạch đều chảy theo hướng Tây, vì biển Kiên Giang ở phía Tây; khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều mang tính chất "nửa Đại Tây Dương, nửa xích đạo". Đồng bào dân tộc thiểu số ở Kiên Giang thường sống xen kẽ với đồng bào dân tộc Kinh. Trong quá trình lịch sử lâu dài, phần nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống vùng sâu, vùng xa trục lộ giao thông, chủ yếu sống bằng nghề nông, trồng lúa nước.
Do đó, từ xưa đến nay đồng bào các dân tộc thiểu số luôn gặp khó khăn trong cuộc sống, thậm chí hiện nay nhiều nơi vẫn chưa thoát khỏi cảnh đói nghèo do thiếu vốn sản xuất, đông con, chưa biết tính toán làm ăn nên mức sống rất thấp so với đồng bào dân tộc Kinh. Đồng bào các dân tộc thiểu số Kiên Giang định cư chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa vùng đất phèn mặn, vùng kháng chiến cũ, căn cứ địa cách mạng, xa trục lộ giao thông, thiếu nước ngọt cho sản xuất, cũng như cho đời sống hàng ngày. Có một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số sống xen kẽ với các dân tộc Kinh ở thị trấn, thị xã. nhưng họ ít tham gia buôn bán.
Ngoài ra, còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số sống theo trục lộ giao thông như ở huyện Hòn Đất, Châu Thành, Hà Tiên, Gò Quao. Nhiều tài 8 liệu cho thấy trên vùng đất đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng đất Kiên Giang nói riêng, đến lập nghiệp sinh sống sớm nhất là người Khơ- me. Vì vậy, từ lâu họ đã quen với vùng đất ngập nước, lụt lội, trên rừng có cọp, dưới sông thì cá sấu, họ vẫn luôn bám đất để sinh sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi gia súc. Họ đã sớm cải tạo vùng đất trũng, đầm lầy bao quanh để trồng cây lúa nước ngay khi chưa xuất hiện người Kinh và người Hoa.
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kiên Giang đã sớm tìm được giống lúa và kỹ thuật canh tác thích hợp, họ biết lợi dụng thủy triều lên đưa nước vào ruộng, đắp đập giữ nước, rồi phá đập khai nước ra để rửa phèn cho đất ruộng. Cứ như vậy họ tạo ra đồng ruộng chứa đầy phù sa. Mặt khác, đối với một số ruộng ở xa kênh rạch thì họ đắp bờ thành từng ô vuông giữ nước mưa, khi cần họ tát nước vào ruộng bằng gầu vai, gầu sòng. Có thể xem đó là một phát minh độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số trong thời kỳ đầu làm thủy lợi, cải tạo tự nhiên và kỹ thuật canh tác.
Để phù hợp với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kiên Giang thường định cư trên giồng đất để khai thác vùng đất trũng, ngập nước phèn mặn xung quanh mình. Những điểm tụ cư đó dần dần thu hút một số tộc người khác đến cùng sinh sống, tạo thành những phum và sóc. Phum, sóc là đơn vị cư trú của đồng bào dân tộc Khơ-me ở Kiên Giang nói riêng, đồng bào dân tộc Khơ-me đồng bằng Nam Bộ nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số khác ở khu vực này. Hiện nay phum và sóc của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kiên Giang tuy không phải là đơn vị hành chính chính thức, nhưng đó là một thực thể tồn tại qua nhiều thế kỷ nay.
Trong từng phum, sóc đồng bào sống hòa thuận, đùm bọc lẫn nhau, đồng thời họ sống trung thực, hòa hợp với tất cả các dân tộc anh em ở xung quanh cùng nhau hướng về hạnh phúc bình dị. Trong từng sóc 9 có ngôi chùa phật là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đồng thời cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Tóm lại, tỉnh Kiên Giang là vùng đất nằm ở cực Tây Nam Bộ của Việt Nam, có những nét đặc thù về vị trí, địa lý, điều kiện tự nhiên có núi, rừng, bờ biển, một phần đất liền - đồng bằng, một phần là biển đảo. Đã nhiều thế kỷ qua, đất ở vùng duyên hải Kiên Giang vẫn không ngừng vươn ra biển.
Tỉnh Kiên Giang không chỉ nổi bật ở sự sinh động về cảnh quan thiên nhiên mà còn nổi bật ở vị trí thuận lợi cho quá trình tiếp xúc, giao lưu kinh tế văn hóa với những miền quê khác. Vị trí mở cửa đó là một trong những tiềm năng phát triển kinh tế văn hóa, xã hội của tỉnh Kiên Giang, đồng thời cũng đặt ra những nhiệm vụ nặng nề trong lĩnh vực an ninh vùng biên giới của tỉnh. Trong thực tế, lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Kiên Giang có quan hệ mật thiết với lịch sử hình thành phát triển các cộng đồng dân tộc ở đồng bằng Nam Bộ. Tiến trình lịch sử phát triển Kiên Giang thể hiện nét đặc thù riêng trên một ý nghĩa tương đối, nhưng đó là nét đặc thù trong sự thống nhất của cả cộng đồng các dân tộc cùng một lãnh thổ quốc gia Việt Nam.
- Vào thế kỷ XIV, XV ở Campuchia, đế chế Ăng-co, Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, cai trị hà khắc bắt dân chịu sưu cao thuế nặng, để thỏa mãn sự xa hoa lãng phí cung đình. Sự phản kháng của nhân dân và giới quý tộc ly khai bị triều đình dùng quân đội nhà nghề và hình phạt dã man để đàn áp. Cùng lúc đó giặc ngoại xâm (quân Xiêm) vào giày xéo, gây bao cảnh tang tóc cho nhân dân. Trong hoàn cảnh đó một số khá đông đồng bào dân tộc Campuchia chạy loạn về đồng bằng sông Cửu Long (trong đó có Kiên Giang) tạo thành tộc người Khơ-me Nam Bộ, tách khỏi khối đồng tộc của mình ở Campuchia và trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
10 Vào thế kỷ XVII, ở nước ta chiến tranh giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn diễn ra liên miên, nhân dân đói khổ vì sưu cao, thuế nặng, lại bị bọn tham quan ô lại áp bức bóc lột dã man, bị bắt đi lính để phục vụ cho chiến tranh. cùng với nhiều lý do khác nữa, một bộ phận khá đông trong số họ phải rời bỏ quê hương để tìm đến đồng bằng sông Cửu Long. Đối với những người dân tha phương cầu thực thì đây là nơi dung thân lý tưởng. Họ dựng lều lập xóm để nương tựa nhau làm ăn, sinh sống.
Đặc biệt là vào khoảng thời gian 1658-1669, để gấp rút xây dựng lực lượng chống đàng ngoài (chúa Trịnh), chúa Nguyễn bằng nhiều chính sách - từ khuyến khích đến cưỡng bức - đã tạo ra làn sóng di dân ồ ạt đến vùng này. Đến cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ XVIII đã hình thành khu dân cư đồng bào dân tộc Việt và chính thức được đặt thành trấn Hà Tiên (năm 1714) do Mạc Cửu làm tổng binh. Trấn Hà Tiên đã xuất hiện trên bản đồ nước Đại Việt từ đó. Như vậy ở Kiên Giang, đầu thế kỷ XVIII đã hình thành cộng đồng dân cư và được xác nhận trong bản đồ hành chính của nước ta.
Cộng đồng dân cư đó gồm nhiều dân tộc, trong đó nhiều nhất là dân tộc Kinh (đa số), sau đó là dân tộc Khơ-me và sau nữa là dân tộc Hoa. Các dân tộc thiểu số Khơ-me, Hoa là một bộ phận của cộng đồng dân cư ở Kiên Giang nói riêng, của Nam Bộ Việt Nam nói chung. Đồng bào dân tộc Khơ-me cư trú trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, hình thành khu cư trú phum, sóc mang nặng tính chất làng, xã, nông thôn in đậm dấu vết của các làng, xã, gia tộc khác hẳn ở Campuchia phum, sóc là đơn vị hành chính. Do đó, ở Kiên Giang người đứng đầu trong phum, sóc do chính nhân dân trong phum, sóc lựa chọn, không có quan địa phương, cấp chính quyền trung gian, điều đó cho thấy rằng vùng đất Kiên Giang không được Nhà nước Ăng-co quản lý.