phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận v n được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết. Luan van 13 C ƣơ 1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HÀ NỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong công nghiệp hóa, hiệ đại hóa ở Hà Nội. u n ni v h n ại nh nghi nh v v * Quan niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Để có nhận th c đúng đắn về DNNVV, trước hết cần có sự nhận th c đúng đắn về DN nói chung.
Tiếp cận vấn đề từ góc độ của kinh tế chính trị, theo cách hiểu phổ quát nhất thì DN - dù tính chất là gì (DN nhà nước hay DN tư nhân, DN trong lĩnh vực sản xuất hay thương mại - dịch vụ.); dù ở quy mô nào, DN lớn hay DNNVV, khi được quan niệm là một DN thì đều có những dấu hiệu chung, theo đó chúng đều là những đơn vị tài chính và pháp l , đều có quyền tự quyết định kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình và phấn đấu đạt mục ti u tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhi n giữa các DN có một sự khác nhau nhất định và cần phải có sự phân biệt trong nhận diện. Sự khác nhau theo đó hoặc là: chúng là DN lớn (các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty), hoặc là các DNNVV. Sự phân biệt trong nhận diện này là cần thiết.
Có nhiều cách để nhận diện DNNVV, song cách nhận diện phổ biến là phân theo theo quy mô, trình độ SX, KD. DNNVV là những DN có quy mô nhỏ b về vốn, lao động, hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba nhóm, cũng c n c vào các dấu hiệu nói tr n. Đó là DN si u nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa [2, tr.
Hiện nay trên thế giới còn có nhiều bàn cãi, tranh luận và có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi đánh giá, phân loại DNNVV nhưng thường tập trung vào các dấu hiệu nhận biết chủ yếu như: vốn, doanh thu, lao động, lợi nhuận, thị phần. Luan van 14 Theo Ngân hàng Thế giới, về quy mô, có thể phân DN thành các loại và dấu hiệu để nhận biết như sau: DN si u nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 lao động, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 lao động, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Còn ở mỗi quốc gia, người ta cũng có ti u chí ri ng để xác định DNNVV ở quốc gia mình. Ở Việt Nam, nhiều chuy n gia kinh tế và pháp luật cho rằng khái niệm DNNVV và sau đó khái niệm DN nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ b n ngoài vào Việt Nam.
Vấn đề dấu hiệu nhận biết DNNVV và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều n m qua. Định nghĩa về DNNVV, doanh nghiệp cực nhỏ rõ ràng phải dựa trước ti n vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là các dấu hiệu về số nhân công, vốn đ ng kí, doanh thu., các dấu hiệu này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau. Quan niệm về DNNVV ở nước ta đã từng bước được giải quyết.
N m 1998, tại công v n số 681/CP-KTN của Chính phủ ban hành ngày 20 tháng 6 n m 1998 về "Định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ", theo đó, DNNVV được quan niệm là DN có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công v n). Xác định của công v n này nhằm xây dựng một b c tranh chung về các DNNVV ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Tr n thực tế quan niệm này không cho ph p phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Vì vậy, 3 n m sau, sự ra đời của Nghị định số 90/2001/NĐ - CP đã có những thay đổi nhất định về quan niệm thế nào là DNNVV.
Nghị định đưa ra chính th c định nghĩa DNNVV, theo cách vừa là quan niệm và là dấu hiệu phân định. Nghị định 90/2001/NĐ - CP xác định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc l p, đã đăng ký kinh doanh theo pháp lu t Luan van 15 hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Các DN cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, DN có từ 10 đến 49 nhân công được coi là DN nhỏ. 8 n m sau, ngày 30/6/2009 Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, đưa ra qui định mới, theo đó, số lượng lao động trung bình hàng n m từ 10 người trở xuống được coi là DN si u nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là DN nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là DN vừa.
Những quy định trong Quyết định 56/2009/NĐ-CP hiện đang có hiệu lực sử dụng. Điều 3, Quyết định 56/2009/NĐ-CP ghi rõ: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đ ng k kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: si u nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân n m (tổng nguồn vốn là ti u chí ưu ti n) [12] * Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ DNNVV luôn có tính lịch sử, bởi một DN trước đây được coi là lớn, nhưng với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi là vừa hoặc nhỏ. Như vậy trong việc xác định quy mô DN cần tính thêm hệ số t ng trưởng quy mô DN trung bình trong từng giai đoạn. Hệ số này chỉ được sử dụng khi xác định quy mô DN cho các thời kì khác nhau.
Sự phân loại doanh nghiệp thường chỉ mang tính tương đối Song sự phân loại là cần thiết vì nó phục vụ cho công tác quản l. Hiện nay trên thế giới còn có nhiều bàn cãi, tranh luận và có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi đánh giá, phân loại DNNVV nhưng thường tập trung vào các tiêu chí chủ yếu như: vốn, doanh thu, lao động, lợi nhuận, thị phần. Nói chung, người ta sử dụng 3 dấu hiệu phổ biến để đánh giá và phân loại DN, theo đó xác định những dấu hiệu cùng loại của các DNNVV: Luan van 16 (1) Phân loại DNNVV gắn với đặc điểm từng ngành và tính đến số lượng vốn và lao động được thu hút vào hoạt động SX, KD. Các nước theo quan điểm này gồm Nhật Bản, Malayxia, Thái Lan.Trong bộ luật cơ bản về DN ở Nhật Bản qui định: Trong lĩnh vực công nghiệp và chế biến khai thác, các DNNVV là những DN thu hút vốn kinh doanh dưới 100 triệu Yên (tương đương với khoảng 1 triệu USD).
Ở Malayxia DNNVV là những doanh nghiệp có vốn cố định hơn 500.000 USD) và dưới 50 lao động. (2) DN được phân loại theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành tính đến 3 yếu tố: vốn, lao động và doanh thu. Đài Loan phân chia DN có m c vốn dưới 4 triệu tệ Đài Loan (tương đương 1.5 triệu USD), tổng tài sản không vượt quá 120 triệu tệ và thu hút dưới 50 lao động là những DNNVV. (3) DN được phân loại dựa vào nghành nghề kinh doanh và số lượng lao động.
Theo quan điểm này, ngoài tính đặc thù của ngành cần đến lượng lao động thu hút. Các nước thuộc khối EC, Hàn Quốc, Hồng Kông v. Ở Cộng hoà Liên bang Đ c các DN có dưới 9 lao động được gọi là DN nhỏ, có từ 10 đến 499 lao động gọi là DN vừa và trên 500 lao động là DN lớn [ph. D n ra tình hình tr n để thấy sự phong phú trong các cách phân loại DNNVV ở hiện nay.
Còn đối với nước ta, sự phân loại DNNVV như đã n u ở tr n, được tiến hành dựa tr n những quy định của Chính phủ [12, tr. Trong kinh tế thị trường, hộ kinh doanh và hộ ti u dùng là hai lực lượng chủ thể cùng quyết định thị trường. Do vai trò của mình, họ trở thành s c cung và s c cầu tr n các thị trường khác nhau. Cả l luận và thực ti n đều cho thấy, các DN (trong đó có các DNNVV) vừa đóng vai trò là hộ kinh doanh, lại vừa đóng vai trò hộ ti u dùng.
Để tiến hành sản xuất, DN phải tìm và mua tr n thị trường các yếu tố đầu vào đáp ng mục ti u SX, KD của họ. Khi đó họ là hộ ti u dùng. Khi tiến hành sản xuất và sau đó cung ng sản Luan van 17 phẩm cho thị trường, họ là hộ kinh doanh. Điều đó nói l n vai trò quan trọng của DN nói chung, DNNVV nói ri ng trong kinh tế thị trường.
Tuy nhi n ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, do các điều kiện lịch sử, kinh tế và v n hóa khác nhau, các DNNVV có thể giữ những vai trò với m c độ khác nhau trong sự phát triển kinh tế. Nhận th c được tầm quan trọng của các DN, Đảng và Nhà nước ta coi “Phát triển DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [11, tr. Phát huy vai trò của các DNNVV không những góp phần vào sự phát triển kinh tế, mà còn tạo sự ổn định chính trị, xã hội trong nước. Ở một nước mà phần lớn lao động làm nông nghiệp như nước ta thì chính DNNVV là tác nhân và động lực thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Ở nước ta, các DNNVV tuy cũng đã có môi trường để đầu tư phát triển khá thuận lợi và đạt được những kết quả nhất định, song những kết quả ấy chưa tương x ng với vai trò của các DN loại này. Nguy n nhân chính của tình hình trên là do phần lớn các DNNVV mới hình thành, còn yếu kém, sự phát triển của chúng mang tính tự nhiên, chưa theo một chiến lược với những bước đi phù hợp. Do đó nó cần tiếp tục nhận được sự khuyến khích và những hỗ trợ từ phía nhà nước để tiếp tục phát triển.