phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương với sáu tiết: Chƣơng 1: Trí thức và vai trò của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 11 z Chƣơng 1 TRÍ THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm trí thức Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường hiểu đơn giản và sai lệch khái niệm trí thức, hễ ai có được tấm bằng cao đẳng hay đại học thì đều được xếp vào trí thức. Thực ra, cách hiểu như vậy đã tầm thường hoá khái niệm trí thức và do đó đã tầm thường hoá giới trí thức. Chính vì thế, chúng ta cần phải hiểu đúng hơn về khái niệm trí thức. Theo nhiều nhà khoa học “trí” thuộc về hiểu biết, “thức” thuộc về lương tri.
Trí thức là những người biết mình, biết người, hiểu biết xã hội và phụng sự xã hội, gắn sự nghiệp của mình với sự phát triển xã hội, và do đó, trí thức phải là người có đức độ. Cho nên, nói đến “chuẩn” của người trí thức, người ta thường nhấn mạnh đến một lượng kiến thức lớn, nhưng đồng thời lại nói đến tinh thần sáng tạo và phẩm chất đạo đức. Thuật ngữ “trí thức” được dùng ở nhiều nước trên thế giới và có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Intelligentia nghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết, có suy nghĩ. Từ những năm nửa sau của thế kỷ XIX, khái niệm này trở nên thông dụng, người ta thường dùng nó để chỉ những người có học vấn cao, chuyên lao động phức tạp.
Các nhà khoa học xuất phát từ lăng kính khác nhau, đã có những quan niệm, những định nghĩa khác nhau về trí thức. Do đó, cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trí thức.` Từ điển tiếng Nga (11/1991) viết: Trí thức đó là những người có học vấn và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá và đang làm nghề lao động trí óc. Từ điển Bách khoa Liên Xô, viết: Trí thức là tầng lớp những người làm 12 z nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hoá. Từ điển Bách khoa Triết học, viết: Trí thức là tầng lớp những người lao động trí óc và thường có học vấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hoá.
Trong Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn và phát hành năm 1997, do Hoàng Phê chủ biên cho rằng: Trí thức là người chuyên làm việc bằng trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình. Trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất trân trọng và đánh giá cao vai trò của người trí thức tham gia cách mạng. Người đã đặt ra và giải quyết vấn đề: Trí thức là gì? Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là, hiểu biết sự tranh đấu sinh sản.
Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là, hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác.
Một người học xong đại học, có thể là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa.
Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn trở thành người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế [90, tr. Một số người khác lại cho rằng những người hoạt động trí óc trong lĩnh vực nào thì chỉ được coi là trí thức trong lĩnh vực chuyên môn đó, còn ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ đang làm, có nghĩa là ở các lĩnh vực khác thì họ chỉ được coi là những người bình thường như bao người khác. Nếu quan niệm trong phạm vi hẹp như vậy thì những người được coi là trí thức sẽ rất hạn chế.
Một loại ý kiến lại cho rằng trí thức là những người sáng tạo những giá trị về vật chất, giá trị tinh thần hoặc cả hai và mức độ đánh giá về trí thức phụ thuộc vào mức độ sáng tạo, như vậy, cho phép phân loại trí thức ở những tầng 13 z bậc khác nhau. Có những trí thức tầm cỡ thế giới, có trí thức tầm khu vực, có trí thức tầm cỡ quốc gia. Một số người lại cho rằng trí thức là người sử dụng trí óc một cách sáng tạo, họ thuộc lớp những người thông minh nhất trong xã hội, có khả năng phát triển cao độ để hiểu biết và lý giải những vấn đề nảy sinh trong xã hội. Họ được đào tạo đến trình độ có khả năng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học hay nghệ thuật, hoặc có khả năng hoạt động liên quan đến tư duy ở mức độ cao hơn những người bình thường, hay nói cách khác là những người chuyên lao động trí óc… Hiện nay, thế giới đang trong thời kỳ hội nhập, với sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông và Internet, đòi hỏi ngày càng cao những phẩm chất của người trí thức.
Một mặt, họ phải dũng cảm nói lên ý kiến của mình, đấu tranh vì những giá trị tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, hạnh phúc, thịnh vượng, công bằng; phải trung thực, độc lập, sáng tạo, tự chủ, góp sức mình cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Mặt khác, họ phải có trách nhiệm và cân nhắc về những điều mình nói và mình viết vì chúng có tác động sâu sắc đến xã hội. Trong số các tính cách của trí thức thì tính trung thực là quan trọng nhất, vì không trung thực thì trí thức chỉ có tri thức giả, đạo đức giả và hậu quả của những sự “giả” ấy sẽ gây ra những thảm họa cho xã hội, cuối cùng con người phải hứng chịu những sản phẩm giả, làm cho con người dần dần mất niềm tin vào cuộc sống, mất phương hướng và sống một cuộc sống không còn ý nghĩa. Người trí thức mang những giá trị tốt đẹp không phải tự nhiên mà có, nó phải được giáo dục, rèn luyện trong một thời gian dài.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian con người sống và hoạt động sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chính trị và kinh tế - xã hội, nhất là chịu ảnh hưởng bởi sự tác động về chính sách và cách thức giáo dục từ gia đình đến xã hội làm cho nhân cách của con người cũng có sự biến đổi. Qua một số quan niệm, định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng dù 14 z góc độ tiếp cận khác nhau, cách diễn đạt khác nhau, song những quan niệm, định nghĩa này đều dựa vào một số đặc trưng cơ bản của trí thức sau đây: Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo. Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động của mình tác động vào tự nhiên, nhằm khai thác và cải tạo tự nhiên theo những phương thức nhất định, phục vụ cho nhu cầu của mình. Phương thức mà con người sử dụng để tác động vào tự nhiên trong các thời đại và ngay cả trong một thời đại cũng khác nhau.
Họ có thể tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới tự nhiên thông qua lao động chân tay hoặc lao động trí óc. Nói tới trí thức là nói tới hoạt động lao động sáng tạo bằng trí óc. Lao động trí óc là một trong những cách thức mà một bộ phận trong xã hội sử dụng để tác động đến tự nhiên một cách gián tiếp. Lao động trí óc xuất hiện là kết quả của sự phân công lao động trong xã hội và phát triển lực lượng sản xuất.
Sự xuất hiện lao động trí óc dẫn đến sự ra đời một tầng lớp lao động đặc biệt trong xã hội - tầng lớp trí thức. Tuy nhiên, lao động trí óc là lĩnh vực tương đối rộng, bao gồm lao động trí óc giản đơn và lao động trí óc phức tạp. Lao động trí óc giản đơn và phức tạp phân biệt với nhau ở mức độ hao phí năng lượng thần kinh trung ương trong quá trình làm việc. Lao động trí óc phức tạp cần sự hao phí năng lượng thần kinh trung ương cao hơn để thực hiện những hoạt động phức tạp của tư duy như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, khái quát hoá, trừu tượng hoá… về những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội thành lý luận, tri thức khoa học mới, có tính sáng tạo.
Còn lao động trí óc giản đơn chỉ là những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần và dần dần thành thói quen, phản xạ. Lao động trí óc giản đơn gắn với lao động chân tay, là dạng cao hơn của lao động chân tay. Lao động trí óc giản đơn thường không tạo ra tri thức khoa học mới mà chỉ tạo ra những tri thức kinh nghiệm thông thường. Vì vậy, không phải tất cả những người lao động trí óc đều là trí thức, mà chỉ những người lao động trí óc phức tạp mới có khả năng trở thành người trí thức.
15 z Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới. Tri thức khoa học phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, phản ánh mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, bắt nguồn từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm thông qua hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức - lao động trí óc phức tạp. Sản phẩm lao động của trí thức chính là tri thức khoa học.
Sản phẩm này có đặc điểm là tồn tại ở dạng tinh thần, mới, có tính kế thừa nhưng không lặp lại, có giá trị xã hội cao. Vì vậy, lao động của trí thức là lao động mang tính sáng tạo rõ nét. Thứ ba, trí thức là người có trình độ học vấn, chuyên môn sâu. Để thực hiện được hoạt động lao động trí óc phức tạp, sáng tạo nhằm tạo ra những tri thức khoa học, trí thức phải là những người có trình độ học vấn và chuyên môn sâu.