Chương I: Khái quát về đô thị Thăng Long - Hà Nội trước thời Pháp thuộc. Chương II: Quá trình đô thị hoá của Hà Nội thời Pháp thuộc, giai đoạn 1885-1919. Chương II: Quá trình đô thị hoá của Hà Nội thời Pháp thuộc, giai đoạn 1920-1945. l4 CHUONG 1: KHAI QUAT VE DO THI THANG LONG - HA NOI TRƯỚC THỜI PHAP THUOC 1.
Điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường, sinh thái Hà Nội là thành phố có điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái đặc thù. Về Vị trí: Hà Nội có vị trí, địa thế rất đẹp và thuận lợi: năm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú Và địa hình: Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bồi cao và các bậc thêm. Phần lớn diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thô sông Hồng với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mặt biên. Còn lại chỉ có khu vực đôi núi ở phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20m đến hơn 400m, đỉnh Chân Chim cao nhất là 462m.
Ngoài ra còn có các vùng trững với các hỗ đầm (dấu vết của những dòng sông cô). Địa hình Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Điều này được thê hiện rất rõ ở hướng dòng chảy của sông Hồng - con sông lớn chảy qua lòng Hà Nội. Và khí hậu: Khí hậu Hà Nội là đặc trưng của khí hậu Việt Nam: N?”hiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít.
Có lượng bức xạ mặt trời dồi đảo và nhiệt độ cao do năm trong vùng nhiệt đới. Nhiệt độ thấp nhất là 2,7°C (tháng 1/1955). Nhiệt độ cao nhất: 46°C (tháng 7/2010). Hà Nội có độ âm và lượng mưa khá lớn do chịu ảnh hưởng của biển: Trung bình hằng năm, nhiệt độ không khí 23,6°C, độ âm 79%, lượng mưa 1245 mm.
Mỗi năm có 15 khoang 114 ngay mua. Ha Noi co du bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Sự luân chuyển của các mùa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng. Về Thúy văn: Hà Nội là thành phố găn liền với những dòng sông, trong đó sông Hồng là lớn nhất.
Sông Hồng bắt đầu từ dãy Ngụy Sơn (Trung Quốc), ở độ cao 1776m, chảy theo hướng tây - bắc /đông - nam vào Việt Nam từ Lào Cai và chảy ra vịnh Bắc Bộ. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài khoảng 30 km. Ngoài sông Hồng, trong địa phận Hà Nội còn có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ và sông Cà Lô. Hà Nội có một hệ thống ao hồ dày đặc.
Đây là một đặc trưng quan trọng tạo nên nét riêng biệt của cảnh quan Hà Nội. Những hồ lớn trong khu vực là hồ Tây, hỗ Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu, hồ Đống Da, hồ Hoàn Kiếm, hồ Thanh Nhàn, hồ Thủ Lệ, hồ Thành Công, hỗ Văn Chương, hồ Linh Đàm, hồ Yên Sở, hồ Thuyén Quang. Hệ thống này có nhiều ý nghĩa đối với sự bên vững: hồ Hoàn Kiếm và hồ Tây có thể coi là biểu tượng của thành phố, các hồ trong công viên, các hồ gắn với các công trình tôn giáo và tín ngưỡng (đây là một đặc điểm trong tô chức không gian truyền thống của các ngôi đình). Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa tại Hà Nội đã làm cho diện tích ao hồ ngày càng thu hẹp lại.
Trên 50% số ao hồ đã bị lấp dé phục vụ cho việc xây dựng nhà Ở. Diện mạo Thăng Long - Hà Nội qua các giai đoạn trước thời thuộc Pháp 2. Định đô Thăng Long và điện mạo ban đầu 16 Miễn đất Hà Nội đã có cư dân sinh sống từ thời đá mới. Vị trí tại nơi hợp lưu của sông Hồng và sông Tô Lịch, một phần đã bị lắp đi nhưng nay còn dấu vết ở gần vườn hoa Bách Thảo (cũ) và bao quanh phía Tây thành phố.
Trước đây vùng này là vịnh biển sau nước rút mà thành. Vì thế, ngày nay ta thấy thành phố có nhiều hồ nước và xung quanh Hà Nội có nhiều địa điểm là di chỉ của thời kỳ đồ đồng, đồ sắt. Xưa kia, nơi đây đã từng có ngôi làng ven bờ sông Hồng. Khu làng cô đầu tiên của Hà Nội xa xưa có cái tên huyền thoại là Long Đỗ (Rốn Rồng), vào thời Hùng Vương - An Dương Vương dựng nước trước công nguyên, thuộc “bộ” (hay “bộ lạc” Tây Vu).
Trong thời Bắc thuộc là đất huyện Tây Vu và Phong Khê đời Hán (đầu Công nguyên), đất huyện Vũ và Nam Định đời Ngô (thế kỷ II) và đời Tân (thế ký IV). Từ giữa thế kỷ V, khu làng gốc của Hà Nội cỗ đã phát triển thành một huyện, rồi nâng cấp thành một quận, mang tên là Tống Bình vào thời nhà Lưu Tống và nhà Tuỳ. Đến giữa thế kỷ VI, lần đầu tiên, với phong trào khởi nghĩa Lý Bí chỗng Bắc thuộc thành lập nước Vạn Xuân, miền trung tâm Hà Nội cô dong vai tro trung tâm đất nước (trung tâm phong trào đấu tranh) với một toà thành cô, cũng lần đầu tiên được xây dựng tại đây. Sách Luong th chép: năm 545, Lý Bí (Lý Nam Dé) “dung thành luỹ bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch” (cửa sông Tô Lịch thông ra sông Hồng, sau là đất phường Giang Khẩu (Hà Khẩu) nay là khu vực phố Hàng Buồm, Ngõ Gạch, Chợ Gao).
Sang thế kỷ thứ VII, Tống Bình trở thành trung tâm thống trị cả miền đồng bằng Bắc Bộ của nhà Tuỳ. Sau cuộc xâm lược vào năm 607, quân tướng nhà Tuỳ đã chuyên đời trung tâm đô hộ từ Long Biên tới Tống Bình và đã xây vòng thành 17 bảo vệ được đặt tên là La Thành. Đó là bức tường thành bằng đất có chu vi hơn 6km, vào thế kỷ IX thành được mở rộng thêm và mang tên Đại La. Từ đó cho đến đầu thế kỷ X, trung tâm Hà Nội cổ trở thành dinh luỹ chủ yếu của chính quyền đô hộ phương Bắc, với một vòng thành “Đại La” rộng bao quanh để cho Đại La từ đó trở thành một tên riêng nữa của Hà Nội cỗ và trở thành nơi giành giật giữa các lực lượng khởi nghĩa (tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng, cuối thế kỷ VIII), các cuộc binh biến (tiêu biểu là cuộc nỗi dậy của Dương Thanh, đầu thế kỷ IX).
cùng bọn thống trị ngoại bang. Đâu thế kỷ X, với sự kiện họ Khúc dấy nghiệp, Dương Đình Nghệ và cuộc kháng chiến của Ngô Quyên, trung tâm Hà Nội trở thành địa bàn đấu tranh rồi là chiến trường quyết định số phận thế lực xâm lược và thống trị phương Bắc, kết thúc thời đại nghìn năm Bắc thuộc. Tuy nhiên, các vị vua ở đầu thời kỳ đất nước độc lập từ giữa thế ký X đến đầu thế kỷ XI đã chọn Hoa Lư ở cách Đại La 100km về phía Nam để đặt kinh đô. Hoa Lư nằm trong vùng núi ở phía Nam đồng bằng sông Hồng có vị trí hiểm trở nhưng khó khăn về giao thương.
Cuối năm 1009, tại Hoa Lư (Ninh Bình), Lý Công Uẫn được đưa lên làm vua, sáng lập nên vương triều Lý. Lý Công Uân quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La vào năm 1010. Theo truyền thuyết, khi tới Đại La đã nhìn thấy “rong vàng bay lên”, vua cho là điềm tốt nên chọn đặt kinh đô tại đó và thủ đô mới được nhà vua đặt tên là Thăng Long. Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Việt đưới hai triều Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quân sự của một chính quyên độc lập non trẻ còn phải đôi phó với nhiêu môi đe doạ của 18 thù trong giặc ngoài.
Với địa thế lợi hại của Hoa Lư, triều đình đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khôi phục và củng cô nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đánh tan quân xâm lược nhà Tống bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc. Những thành quả bảo vệ và củng cỗ độc lập dân tộc gan liền với thống nhất quốc gia thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đã tạo điều kiện đưa đất nước vào thời kỳ mới: thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc và nền văn hoá dân tộc. Hoa Lư với vị trí và địa thế núi non hiểm trở đã không đáp ứng được vai trò kinh đô ở thời kỳ phát triển mới. Lý Công Uẩn tức Lý Thái TỔ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh thành đối với vận mệnh của đất nước và vương triều nên đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long.
Trước ngày xây dựng kinh thành Thăng Long, miễn đất này đã là nơi dân cư đông đúc, buôn bán thịnh vượng. Nhờ những điều kiện phát triển kinh tế xã hội sẵn có ở đây nên khi Lý Thái Tô thiên đô tới, chỉ phải lo xây dựng Hoàng thành, còn những khu vực nhần dân ở không phải xây dựng gì mới. Nhờ đó việc xây dựng kinh đô chỉ trong mấy tháng cuối năm 1010 và 1011 đã cơ bản thành hình hài. Sau khi dời đô về Thăng Long, công việc đầu tiên của triều Lý là kiến thiết cung điện làm nơi ở, nơi làm việc của triều đình quý tộc, xây dựng thành luy bao vé.
Mua thu năm 1010, một cụm kiến trúc trung tâm gồm các cung điện đã được dựng lên: Điện Càn Nguyên (chỗ coi châu), Điện Tập Hiên, Điện Giảng Võ, Điện Cao Minh, Điện Long An, Long Thuy, Điện Nhật Quang và Điện Nguyệt Minh, phía sau là hai cung Thuý Hoa, Long Thuy làm chỗ ở cho cung ~ nu. 19 Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long chia làm hai phần: Hoàng thành và Kinh thành. Hoàng thành nằm trong lòng Kinh thành là khu vực nhà vua và triều đình làm việc. Kinh thành là khu vực nhân dân và quan lại ở, bao bọc lấy Hoàng thành.
Trong thành còn ngăn ra một khu vực nữa, gọi là Cam thành, có tường xây kiên cố, có quân lính canh gác nghiêm ngặt - là nơi vua và các hoàng hậu cung tân mỹ nữ ở. Đây là khu vực thành - chính trị hay thành - thị quân vương giữ vai trò đầu não của nhà nước trung ương tập quyên tức là trung tâm chính trị của cả nước. Phía ngoài là khu thị dân bao gồm những xóm làng nông nghiệp, những phố phường công thương và một hệ thống bến, chợ của kinh thành.