Đặt vấn đề Ngày nay điện thoại smartphone ngày càng phổ biến. Không chỉ đơn thuần là dùng để gọi điện và nhắn tin như những năm trước kia. Smartphone hiện tại có rất nhiều tiện ích cho con người như nghe nhạc , chụp ảnh , tìm kiếm thông tin, các ứng dụng tiện ích cá nhân,… Đi cùng với sự phát triển smartphone là sự tương tác giữa smartphone và người dùng. Làm thế nào có thể sử dụng smartphone một cách dễ dàng ít thao tác nhất là những điều mà chúng ta muốn hướng đến.
Cùng với xu hướng đơn giản hóa cách người dùng sử dụng smartphone, máy tính, những trợ lý ảo thông minh đang xuất hiện ngày càng nhiều để thay đổi thói quen sử dụng thiết bị người dùng. Trong khoảng 1 thập kỉ trở lại đây, vẫn chưa có một cuộc cách mạng nào thực sự có thể thay đổi thói quen của người dùng. Tuy vậy, những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ AI, nhận diện giọng nói và máy học hứa hẹn sẽ tạo ra một cuộc cách mạng mới về hình thức tương tác với các thiết bị công nghệ. Không bấm, không vuốt, người dùng tương lai có thể sẽ chuyển sang nói.
Ưu điểm của ra lệnh giọng nói là giúp người dùng tương tác với thiết bị ít hơn nhưng có hiệu suất làm việc cao hơn. Điều này rất cần thiết cho lối sống đa nhiệm. Người dùng có thể vừa chuẩn bị bữa sáng, vừa nghe trợ lý ảo đọc tin tức. Hay có thể vừa lái xe và ra lệnh tìm kiếm đường.
Giọng nói là hình thức tương tác giúp rút ngắn thời gian nhập lệnh tốt nhất hiện nay. Ngoài ra, trợ lý ảo nhận lệnh bằng giọng nói có thể giúp người dùng giảm dần thời gian sử dụng điện thoại di động, điều mà các ông lớn công nghệ bắt đầu quan tâm. Lĩnh vực trợ lý ảo đang là mối quan tâm lớn và tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo. Kể từ năm 2011, khi Siri lần đầu tiên được tích hợp vào một chiếc smarphone, lĩnh vực trợ lý ảo áp dụng trí tuệ nhân tạo đã có nhiều bước tiến vượt bậc, mở ra một thời đại con người có thể giao tiếp với máy móc, thực hiện các tác vụ từ đơn giản đến phức tạp.
Hiện nay, trên thế giới đã có khá nhiều trợ lý ảo nổi tiếng như Siri (Apple), Google Assistant (Google), Amazon Alexa (Amazon), Cortana (Microsoft). Dù đang gây sốt tại Mỹ và châu Âu nhưng đối với người Việt, tất cả những công cụ trợ lý ảo như Siri, Google Assistant, Amazon Alexa, Cortana… đều chưa thể hiện được sức mạnh do vấn đề ngôn ngữ. Phát triển được trợ lý ảo là một nhiệm vụ khó, trợ lý ảo sử dụng trí tuệ nhân tạo lại càng khó hơn và tạo ra được trợ lý ảo áp dụng trí tuệ nhân tạo giao tiếp bằng tiếng Việt chắc chắn là một thách thức to lớn. Hiện tại, dù đã từng có một vài công cụ trợ lý ảo bằng tiếng Việt cho người Việt nhưng đa phần mới dừng lại ở việc ChatBots chứ chưa thể xử lý ngôn ngữ tiếng Việt một cách tự nhiên.
Nhận thấy việc phát triển trợ lý ảo ở Việt Nam đang phát triển. Bản thân em phát triển một trợ lý ảo bằng giọng nói , cụ thể là hỗ trợ về hệ hỏi đáp giúp đỡ người dùng tìm kiếm thông tin ngắn gọn. 9 Một số vấn đề mà em giải quyết trong ứng dụng này là : - Nhận diện giọng nói và là đầu vào cho ứng dụng. - Xác định yêu cầu của người dùng với đầu vào là câu hỏi bằng giọng nói được chuyển qua text.
- Trich xuất đán án phù hợp với câu hỏi và đưa ra câu trả lời. Giới thiệu về hệ hỏi đáp 2. Lịch sử phát triển và các hệ hỏi đáp thực tế Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và kĩ thuật , cùng với sự bùng nổ về Internet. Chúng ta có thể tìm kiếm mọi thứ trên Internet dễ dàng với sự trợ giúp của các công cụ tìm kiếm như Google, Bing, Yahoo Search hay Bách khoa toàn thư trực tuyến Wikipedia.Khi mà các công cụ tìm kiếm trả lại cho người dung lượng thông tin rất là lớn, lên đến hàng nghìn trang web mà phần nhiều không chứa những thông tin mà người dung mong muốn.
Làm thế nào để lấy được những đáp án ngắn gọn và chính xác nhất mà người dùng mong muốn. Hệ hỏi đáp (QA system) là một môn khoa học máy tính trong lĩnh vực trích xuất thông tin và xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP), xây dựng hệ thống tự động trả lời các câu hỏi mà con người đưa vào bằng ngôn ngữ tự nhiên. BASEBALL được phát triển để trả lời câu hỏi người dung về ngày thi đấu , địa điểm và kế quả của các trận bóng chày. LUNAR trả lời các câu hỏi về việc phân tích địa chất của các loại đá trên mặt trăng thu được từ tàu Apollo.
Trên thực tế , LUNAR đã được chứng minh tại hội nghị khoa học vào năm 1971 và nó có thể trả lời 90% các câu hỏi được đặt ra chưa từng được đào tạo trong hệ thống. Các hệ hỏi đáp với lĩnh vực cụ thể được phát triển những năm tiếp theo. Đặc điểm chung của các hệ thống này là chúng có cơ sở dữ liệu có cấu trúc cố định hoặc hệ thống kiến thức được tạo trong các lĩnh vực cụ thể. SHRDLU là một chương trình trả lời câu hỏi rất thành công được phát triển bởi Terry Winograd vào những cuối năm 60 đầu thập niên 70.
Người dùng thực hiện một cuộc hội thoại với máy tính để có thể di chuyển, đặt tên cho các khối hoặc truy vấn trạng thái của một khối. Trong đó các khối được chứa trong một hộp không gian ảo. Sức mạnh của hệ thống này là sự lựa chọn một lĩnh vực cụ thể và với các luật được mã hóa trong chương trình. Hiện nay , hệ hỏi đáp được phát triển ngày càng thông minh và được sử dụng rộng rãi như các trợ lý ảo : Siri của IOS , Google Assistant của Android , Cortana của Windows.
Các trợ lý ảo này là các trợ lý cá nhân thông minh giúp cho người dùng sử dụng thiết bị một cách nhanh chóng hơn mà không phải dùng đến các thao tác tay bằng việc ra lệnh bằng giọng nói. Phân loại hệ hỏi đáp 10 Có nhiều cách phân loại hệ hỏi đáp dựa trên tiêu chí khác nhau như : theo miền ứng dụng, khả năng trả lời câu hỏi, hay theo cách giải quyết tiếp cận bài toán… 2. Phân loại theo miền ứng dụng (domain) Hỏi đáp miền mở question answering) : Hệ thống xử lý hầu hết các câu hỏi và chỉ có thể dựa vào các ontology chung hay các mạng tri thức có sẵn như: wikipedia, bách khoa từ điển. Mặt khác, các hệ thống này thường có nhiều dữ liệu phong phú dễ thu thập để trích xuất câu trả lời Hỏi đáp miền đóng (Closed-domain question answering) : Hệ thống xử lý các câu hỏi trong một miền cụ thể (ví dụ : y học,giáo dục, thể thao…).
Ngoài ra hệ hỏi đáp miền đóng có thể chỉ sử dụng trong tình huống một loại câu hỏi giới hạn, chẳng hặn như câu hỏi về mô tả hoặc khái niệm. Xây dựng hệ hỏi đáp miền đóng được coi là dễ dàng hơn so với hệ hỏi đáp miền mở bởi chỉ cần khai thác một kho dữ liệu liên quan tới một lĩnh vực cụ thể (thường là ontology của miền cụ thể). Phân loại theo khả năng trả lời câu hỏi Mỗi câu hỏi thường có những câu trả lời ở dạng riêng, tùy vào mục đích câu hỏi để hệ thống trích xuất đáp án phù hợp. Thường được chia thành các loại: - Câu hỏi đơn giản : Trích suất đáp án từ những tài liệu có sẵn sau đó sử dụng các suy luận để tìm mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời, ví dụ như “Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh năm bao nhiêu ?”, “tác giả của bài thơ Đất Nước là ai ?” - Câu hỏi có câu trả lời Đúng hoặc Sai , Có hoặc Không.
- Câu hỏi danh sách : Trả về danh sách các thực thể đối tượng là đáp án của câu hỏi. - Câu hỏi phức tạp : Là những câu hỏi về khái niệm, mô tả , cách thức , so sánh , nguyên nhân … 2. Phân loại theo cơ sở dữ liệu Dựa vào loại cơ sở dữ liệu, hệ hỏi đáp được chia làm 2 loại: 2. Hệ hỏi đáp dữ liệu có cấu trúc: Dữ liệu có cấu trúc dễ được xây dựng theo một cấu trúc nhất định và nhất quán , truy vấn dễ dàng .Việc xây dựng dữ liệu đang còn phức tạp và hạn chế.Những kho dữ liệu này thường mô tả thông tin bằng ngôn ngữ RDF (Resource Description Framework).Mỗi đối tượng trong RDF được mô tả bởi các RDF statement (còn được gọi là bộ ba RDF).Một bộ 3 RDF bao gồm (chủ thể, thuộc tính hoặc quan hệ, đối tượng).
Ví dụ câu “Hà Nội là thủ đô của Việt Nam” có chủ thể là “Hà Nội”, quan hệ là “là thủ đô”, đối tượng là “Việt Nam”. RDF được xây dựng dựa trên XML. Ví dụ dữ liệu về đối tượng Empire Burlesque biểu diễn bởi RDF: 11 <?xml version="1.0"?> <rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns:cd="http://www.fake/cd#"> <rdf:Description rdf:about="http://www.fake/cd/Empire Burlesque"> <cd:artist>Bob Dylan</cd:artist> <cd:country>USA</cd:country> <cd:company>Columbia</cd:company> <cd:price>10.90</cd:price> <cd:year>1985</cd:year> </rdf:Description> </rdf:RDF> Để truy vấn dữ liệu RDF ta sử dụng ngôn ngữ truy vấn là SPARQL. SPARQL là ngôn ngữ và giao thức truy vấn tiêu chuẩn cho Dữ liệu Mở Liên kết (Linked Open Data) trên web hoặc trong cơ sở dữ liệu đồ họa ngữ nghĩa (còn được gọi là RDF triplestore - bộ 3 RDF),viết tắt của Giao thức SPARQL “SPARQL Protocol And RDF Query Language”, cho phép những người sử dụng truy vấn thông tin từ các cơ sở dữ liệu hoặc bất kỳ nguồn dữ liệu nào có thể được ánh xạ tới RDF.
SPARQL được tạo ra là một chuẩn để truy cập dữ liệu RDF làm việc theo nhóm của World Wide Web Consortium, và được coi là một trong những công nghệ chủ chốt của web semantic. Ví dụ sử dụng SPARQL để trả lời câu hỏi: Ai là tổng thống Argentina 12 Truy vấn SPARQL Kết quả Tìm đối tượng có kiểu là Country và có x0: nhãn là Argentina: Argentina SELECT DISTINCT ?x0 WHERE { ?x0 rdf:type DBpedia-owl:Country. ?x0 rdfs:label "Argentina"@en. } Tìm đối tượng vị trí lãnh đạo của x1: Argentina có tên là “President”: President_of_Argentina SELECT DISTINCT ?x1 WHERE { ?x0 rdf:type DBpedia-owl:Country.
?x0 rdfs:label "Argentina"@en. ?x1 dbpprop:post "President"@en. } Tìm nhãn của đối tượng đang giữ vị trí x3: President của Argentina: "Cristina Fernández de Kirchner"@en SELECT DISTINCT ?x3 WHERE { "Cristina Fernández de Kirchner"@de ?x0 rdf:type DBpedia-owl:Country. "Cristina Fernández de Kirchner"@es ?x0 rdfs:label "Argentina"@en.
"Cristina Fernández de Kirchner"@it ?x0 dbpprop:leaderTitle ?x1.