CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI TIẾN TRÌNH 1.Tiến trình và các loại tiến trình: Để hỗ trợ hoạt động đa nhiệm, hệ thống máy tính cần phải có khả năng thực hiện nhiều tác vụ xử lí đồng thời nhưng việc điều khiển hoạt động song hành ở cấp độ phần cứng là rất khó khăn. Vì vậy, các nhà thiết kế hệ điều hành đề xuất một mô hình song hành giả lập bằng cách chuyển đổi bộ xử lý qua lại giữa các chương trình để duy trì hoạt động của nhiều chương trình tại cùng một thời điểm. Trong mô hình này, các hệ thống được tổ chức thành các tiến trình (process). Tiến trình (process): Tiến trình là một bộ phận của một chương trình đang thực hiện, đơn vị thực hiện tiến trình là processor.
Ở đây chúng tôi nhấn mạnh thêm rằng: Vì tiến trình là một bộ phận của chương trình nên tương tự như chương trình tiến trình cũng sở hữu một con trỏ lệnh, một con trỏ stack, một tập các thanh ghi, một không gian địa chỉ trong bộ nhớ chính và tất cả các thông tin cần thiết khác để tiến trình có thể hoạt động được. Khái niệm trên đây mang tính trực quan, để thấy được bản chất của tiến trình các chuyên gia về hệ điều hành đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về tiến trình. Định nghĩa của Saltzer: Tiến trình là một chương trình do một processor logic thực hiện. Định nghĩa của Horning & Rendell:Tiến trình là một quá trình chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác dưới tác động của hàm hành động, xuất phát từ một trạng thái ban đầu nào đó.
Cần phân biệt rõ hai khái niệm chương trình và tiến trình. Chương trình là một thực thể thụ động chứa đựng các chỉ thị điều khiển máy tính thi hành một tác vụ cụ thể nào đó. Khi cho thực hiện các chỉ thị này, với con trỏ lệnh xác định chỉ thị kế tiếp sẽ thi hành kèm theo các tập tài nguyên phục vụ cho hoạt động của tiến trình. Các loại tiến trình: Các tiến trình trong hệ thống có thể chia thành hai loại: tiến trình tuần tự và tiến trình song song.
Tiến trình tuần tự là các tiến trình mà điểm khởi tạo của nó là điểm kết thúc của tiến trình trước đó. Tiến trình song song là các tiến trình mà điểm khởi tạo của tiến trình này nằm ở thân của các tiến trình khác, tức là 5 có thể khởi tạo một tiến trình mới khi các tiến trình trước đó chưa kết thúc. Tiến trình song song được chia thành nhiều loại: - Tiến trình song song độc lập: là các tiến trình hoạt động song song nhưng không có quan hệ thông tin với nhau, trong trường hợp này hệ điều hành thiết lập cơ chế bảo vệ dữ liệu của các tiến trình, và cấp phát tài nguyên cho các tiến trình một cách hợp lý. - Tiến trình song song có quan hệ thông tin: trong quá trình hoạt động các tiến trình thường trao đổi thông tin với nhau, trong một số trường hợp tiến trình gửi thông báo cần phải nhận được tín hiệu từ tiến trình nhận để tiếp tục, điều này dễ dẫn đến bế tắc khi tiến trình nhận tín hiệu không ở trong trạng thái nhận hay tiến trình gửi không ở trong trạng thái nhận thông báo trả lời.
- Tiến trình song song phân cấp: Trong quá trình hoạt động một tiến trình có thể khởi tạo các tiến trình khác hoạt động song song với nó, tiến trình khởi tạo được gọi là tiến trình cha, tiến trình được tạo gọi là tiến trình con. Trong mô hình này hệ điều hành phải giải quyết vấn đề cấp phát tài nguyên cho các tiến trình con. Tiến trình con nhận tài nguyên ở đâu, từ tiến trình cha hay từ hệ thống. Để giải quyết vấn đề này hệ điều hành đưa ra 2 mô hình quản lý tài nguyên: Thứ nhất, mô hình tập trung, trong mô hình này hệ điều hành chịu trách nhiệm phân phối tài nguyên cho tất cả các tiến trình trong hệ thống.
Thứ hai, mô hình phân tán, trong mô hình này hệ điều hành cho phép tiến trình con nhận tài nguyên từ tiến trình cha, tức là tiến trình khởi tạo có nhiệm vụ nhận tài nguyên từ hệ điều hành để cấp phát cho các tiến trình mà nó tạo ra, và nó có nhiệm vụ thu hồi lại tài nguyên đã cấp phát trả về cho hệ điều hành trước khi kết thúc. - Tiến trình song song đồng mức: là các tiến trình hoạt động song song sử dụng chung tài nguyên theo nguyên tắc lần lượt, mỗi tiến trình sau một khoảng thời gian chiếm giữ tài nguyên phải tự động trả lại tài nguyên cho tiến trình kia.Mô hình tiến trình: Đa số các hệ điều hành đều muốn đưa sự đa chương, đa nhiệm vào hệ thống. Tức 6 là, trong hệ thống có thể có nhiều chương trình hoạt động đồng thời (concurrency) với nhau. Về nguyên tắc, để thực hiện được điều này thì hệ thống phải có nhiều processor, mỗi processor có nhiệm vụ thực hiện một chương trình, nhưng mong muốn của hệ điều hành cũng như người sử dụng là thực hiện sự đa chương trên các hệ thống chỉ có một processor, và trên thực tế đã xuất hiện nhiều hệ điều hành thực hiện được điều này, hệ điều hành windows9x, windows NT/2000 chạy trên máy tính cá nhân là một ví dụ.
Để thực hiện được điều này hệ điều hành đã sử dụng mô hình tiến trình để tạo ra sự song song giả hay tạo ra các processor logic từ processor vật lý. Các processor logic có thể hoạt động song song với nhau, mỗi processor logic chịu trách nhiệm thực hiện một tiến trình. Trong mô hình tiến trình hệ điều hành chia chương trình thành nhiều tiến trình, khởi tạo và đưa vào hệ thống nhiều tiến trình của một chương trình hoặc của nhiều chương trình khác nhau, cấp phát đầy đủ tài nguyên (trừ processor) cho tiến trình và đưa các tiến trình sang trạng thái sẵn sàng. Hệ điều hành bắt đầu cấp processor cho một tiến trình trong số các tiến trình ở trạng thái sẵn sàng để tiến trình này hoạt động, sau một khoảng thời gian nào đó hệ điều hành thu hồi processor của tiến trình này để cấp cho một tiến trình sẵn sàng khác, sau đó hệ điều hành lại thu hồi processor từ tiến trình mà nó vừa cấp để cấp cho tiến trình khác, có thể là tiến trình mà trước đây bị hệ điều hành thu hồi processor khi nó chưa kết thúc, và cứ như thế cho đến khi tất cả các tiến trình mà hệ điều hành khởi tạo đều hoạt động và kết thúc được.
Điều đáng chú ý trong mô hình tiến trình này là khoảng thời gian chuyển processor từ tiến trình này sang tiến trình khác hay khoảng thời gian giữa hai lần được cấp phát processor của một tiến trình là rất nhỏ nên các tiến trình có cảm giác luôn được sở hữu processor (logic) hay hệ thống có cảm giác các tiến trình/chương trình hoạt động song song nhau. Hiện tượng này được gọi là sự song song giả. Giả sử trong hệ thống có 3 tiến trình sẵn sàng P1, P2, P3 thì quá trình chuyển processor giữa 3 tiến trình này có thể minh họa như sau: 7 Thời điểm Trạng thái các tiến trình t1 P1: được cấp processor P1: bị thu hồi processor (khi chưa kết thúc) t2 P3: được cấp processor P3: bị thu hồi processor (khi chưa kết thúc) t3 P1: được cấp processor P1: kết thúc và trả lại processor t4 P2: được cấp processor P2: kết thúc và trả lại processor t5 P3: được cấp processor t6 P3: kết thúc và trả lại processo Hình sau đây minh họa quá trình thực hiện của 3 tiến trình P1, P2, P3 ở trên: Hình 1: Sự hoạt động "song song" của các tiến trình P1, P2, P3 Chúng ta đều biết, chức năng cơ bản của processor là thực hiện các chỉ thị máy (machine instruction) thường trú trong bộ nhớ chính, các chỉ thị này được cung cấp từ một chương trình, chương trình bao gồm một dãy tuần tự các chỉ thị. Và theo trên, tiến trình là một bộ phận của chương trình, nó cũng sở hữu một tập lệnh trong bộ nhớ chính, một con trỏ lệnh,… Nên xét về bản chất, thì việc chuyển processor từ tiến trình này sang tiến trình khác thực chất là việc điều khiển processor để nó thực hiện xen kẽ các chỉ thị bên trong tiến trình.
Điều này có thể thực hiện dễ dàng bằng cách thay đổi 8 hợp lý giá trị của con trỏ lệnh, đó chính là cặp thanh ghi CS:IP trong các processor thuộc kiến trúc Intel, để con trỏ lệnh chỉ đến các chỉ thị cần thực hiện trong các tiến trình. Mô hình tiến trình hệ thống có được 2 điều lợi: - Tiết kiệm được bộ nhớ: vì không phải nạp tất cả chương trình vào bộ nhớ mà chỉ nạp các tiến trình cần thiết nhất, sau đó tùy theo yêu cầu mà có thể nạp tiếp các tiến trình khác. - Cho phép các chương trình hoạt động song song nên tốc độ xử lý của toàn hệ thống tăng lên và khai thác tối đa thời gian xử lý của processor.Tiểu trình và tiến trình: Tiểu trình: Thông thường mỗi tiến trình có một không gian địa chỉ và một dòng xử lý. Nhưng trong thực tế có một số ứng dụng cần nhiều dòng xử lý cùng chia sẻ một không gian địa chỉ tiến trình, các dòng xử lý này có thể hoạt động song song với nhau như các tiến trình độc lập trên hệ thống.
Để thực hiện được điều này các hệ điều hành hiện nay đưa ra một cơ chế thực thi (các chỉ thị trong chương trình) mới, được gọi là tiểu trình. Tiểu trình là một đơn vị xử lý cơ bản trong hệ thống, nó hoàn toàn tương tự như tiến trình. Tức là nó cũng phải xử lý tuần tự các chỉ thị máy của nó, nó cũng sở hữu con trỏ lệnh, một tập các thanh ghi, và một không gian stack riêng. Một tiến trình đơn có thể bao gồm nhiều tiểu trình.
Các tiểu trình trong một tiến trình chia sẻ một không gian địa chỉ chung, nhờ đó mà các tiểu trình có thể chia sẻ các biến toàn cục của tiến trình và có thể truy xuất lên các vùng nhớ stack của nhau. Các tiểu trình chia sẻ thời gian xử lý của processor giống như cách của tiến trình, nhờ đó mà các tiểu trình có thể hoạt động song song (giả) với nhau. Trong quá trình thực thi của tiểu trình nó cũng có thể tạo ra các tiến trình con của nó. Đa tiểu trình trong đơn tiến trình: Điểm đáng chú ý nhất của mô hình tiểu trình là: có nhiều tiểu trình trong phạm vi một tiến trình đơn.
Các tiến trình đơn này có thể hoạt động trên các hệ thống multiprocessor hoặc uniprocessor.