đặt vấn đề lý do chọn đề tài, mục tiêu đạt được sau khi thực hiện đề tài các nội dung nghiên cứu và thực hiện, các giới hạn thông số và bố cục trình bày đồ án. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Cơ sở lý thuyết là chương tìm hiểu đặc điểm sinh sống của chim yến, giới thiệu phần cứng, phần mềm, lựa chọn linh kiện thiết bị được sử dụng và giới thiệu khái quát về chức năng, thông số kĩ thuật của linh kiện đó, chuẩn giao tiếp sử dụng. Từ đó tạo cơ sở để tiến hành thi công hệ thống thực tiễn.
• Chương 3: Tính toán và thiết kế. Ở chương này, ta tính toán để lựa chọn các linh kiện phù hợp. Sau đó, trình bày và giải thích sơ đồ khối của hệ thống, sơ đồ nguyên lý. • Chương 4: Thi công hệ thống.
Là một chương quan trọng trong bài báo cáo, ta tiến hành thiết kế mạch in PCB, sau đó thi công mạch và lắp đặt các linh kiện vào board. Ngoài ra, viết chương trình hệ thống bằng Arduino IDE và thiết kế trang điều khiển – giám sát trên Website. • Chương 5: Kết quả, nhận xét và đánh giá. Chương này, ta trình bày kết quả đạt được sau khi tìm hiểu và thực hiện đề tài.
Nêu rõ được khả năng hoạt động của thiết bị trong thực tế bằng các thống kê đo được. Cuối cùng, nhận xét – đánh giá những ưu – nhược điểm của hệ thống đạt được. • Chương 6: Kết luận và hướng phát triển. Trong chương cuối này ta trình bày những kết luận rút ra được sau quá trình tìm hiểu và thực hiện đề tài, kết luận về khả năng hoạt động của thiết bị trong thực tế.
Qua đó đưa ra những kiến nghị và đề xuất hướng phát triển của đề tài. BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP – Y SINH 3 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2. KỸ THUẬT NUÔI CHIM YẾN 2.
Đặc điểm và điều kiện sống của chim yến Chim yến là loài chim sống thành quần đàn, làm tổ thành từng cặp riêng rẽ, thường sống ở gần nước (sông, hồ, biển), kiếm ăn ở các đồng ruộng, rừng cây thấp. Thức ăn ưa thích của chúng là những loại côn trùng nhỏ như ong bắp cày, kiến cánh, ruồi muỗi, cào cào,…do đó chim yến rất có ích đối với mùa màng và các vùng cây ăn quả vì thức ăn chủ yếu là các loại côn trùng gây hại. Phạm vi kiếm ăn của chúng khá rộng, khoảng 25 km. Trong tự nhiên, chim yến là loài vật rất trung thành.
Một khi chúng đã lựa chọn được nơi ở và làm tổ thì chúng sẽ gần như ở lại suốt đời trừ khi có những yếu tố bất an như khai thác tổ không đúng cách hoặc bị phá hoại. Do đó, càng lâu năm, đàn yến càng đông. Về điều kiện môi trường, chim yến sống thích hợp ở nhiệt độ không khí từ 27 - 310C, tuy nhiên tùy theo vùng miền, chúng vẫn có thế chấp nhận sống trong điều kiện nhiệt độ trung bình không đồng đều. Bên cạnh đó, độ ẩm không khí cũng rất quan trọng, độ ẩm tốt nhất là 74 – 85%, với độ ẩm cao hơn 88%, tổ yến có thể không đạt chất lượng tối ưu và với độ ẩm thấp hơn 74% chim yến sẽ không vào làm tổ.
Thêm một yếu tố cũng khá quan trọng, đó là điều kiện ánh sáng, nó quyết định giai đoạn đẻ trứng, ấp trứng và chăm sóc nuôi con. Khi làm nhiệm vụ này, chúng chỉ cảm thấy an toàn trong điều kiện ánh sáng dưới 50 lux vào ban ngày và không bị ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào để tránh mối đe dọa như đại bàng, diều hâu, bồ câu. Ngoài ra, tần số âm thanh mà chim yến phát ra vào khoảng 1 – 16 kHz, tập trung nhất ở khoảng 2 – 5 kHz, hoàn toàn nằm trong khoảng tai người nghe được (20 Hz – 20 kHz). Tập tính sinh sản của chim yến Chim yến sinh sản theo mùa, bắt đầu xây tổ vào giữa tháng 1, bắt đầu đẻ trứng vào khoảng cuối tháng 3.
Chim yến đực và cái cùng nhau làm tổ, cùng ấp và nuôi chim con, sinh sống khá ổn định về giờ giấc cũng như phương hướng kiếm thức ăn hoặc bay về tổ. Thời gian chúng kiếm ăn cũng tùy theo mùa, khi mặt trời mọc cũng BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP – Y SINH 4 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT là lúc chim yến bắt đầu kiếm ăn, đến khi mặt trời lặn khoảng 18h00 thì chim yến bắt đầu về tổ. Tiếp đến, chúng sẽ cùng nhau làm tổ từ lúc 20h00 đến 3h00 sáng hôm sau.
Số lần làm tổ và thời gian làm tổ khác nhau qua từng giai đoạn. Giai đoạn đầu khi hình thành tổ trung bình khoảng 12 lần/ngày, khi sắp tới thời gian đẻ trứng thì cường độ tăng lên, khoảng 15 lần/ngày, đến khi hoàn thành mất tới 30 – 80 ngày. Sau đó sẽ là thời gian giao phối đẻ trứng khoảng 5 – 8 ngày, ấp trứng 23 – 30 ngày và từ lúc trứng nỏ tói khi chim non rời tổ khoảng 40 – 46 ngày. Ở môi trường thích hợp, mỗi cặp chim chỉ đẻ khoảng 3 lần.
Một chu kì sinh sản khoảng 3 – 4 tháng trong đó 1 – 2 tháng là xây tổ, vì vậy chim yến có thể làm lại tổ vào mỗi chu kì. Xây mô hình nhà nuôi chim yến 2. Phần xây Nên làm tường có 2 lớp, thông gió chéo, mái đỗ sàn có lớp đệm đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm cho một quá trình lâu dài. Chống thấm và thoát nước mặt sàn tốt (như sử dụng lưới, nylon,…).
Bố trí hồ nước trong nhà (tầng trệt) để duy trì nhiệt độ, độ ẩm ổn định, hỗ trợ hệ thống tạo ẩm. Độ cao mỗi tầng trung bình 3m đến 3. Phòng lượn thông suốt, đảm bảo cho chim sải cánh thoải mái, diện tích tối thiểu 20m2, độ cao tối thiểu 2m tính từ mái sân thượng, bố trí thông gió, cách nhiệt. Lắp đặt hệ thống và trang thiết bị bên trong mô hình nhà nuôi chim yến Phần gỗ: - Là phần quan trọng do chim trực tiếp làm tổ, gắn trực tiếp lên trần nhà theo quy cách 30x90cm, 40x100cm, 40x120cm.
- Loại gỗ sử dụng là loại gỗ chuyên dụng cho nhà yến đã qua sấy khô, bào rãnh cho chim bám. Mặt gỗ rộng 15x20cm, dày 2cm. Phần mặt dài của ô gỗ phải đặt vuông góc với hướng vào của chim (song song với miệng gỗ). - Lắp gỗ phải bảo đảm vuông góc, đều, không được hở trần.
Phần âm thanh: BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP – Y SINH 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT - Loa góc trong nhà: Sử dụng loại loa chuyên dụng, lắp và đi dây theo bản vẽ chi thiết của kỹ thuật. Trung bình 100m2 sử dụng 30 cặp loa. Đi dây theo chuẩn Hifi.
- Loa dẫn dụ: Sử dụng những loại loa chuyên dụng công xuất lớn hơn loa góc, đặt tại những vị trí thông tầng, thông phòng để trung chuyển chim vào hệ thống loa góc sinh sống. - Loa miệng lỗ: Sử dụng một loa đặc biệt âm thanh lớn làm loa trung tâm miệng lỗ (loa hút chim), bên cạnh đó hỗ trợ bằng 2 loa dẫn dụ. - Loa mái nhà: Loa có tần số cao để gọi chim từ xa về tập trung trên mái nhà yến,thông thường sử dụng loại loa có họng dài để khuếch đại tần số, làm bằng nhựa hoặc gang, chống được nước mưa, đế thạch anh tạo độ bền cao, đặt trên đỉnh mái nhà, có độ nghiêng để nâng cao tần số khuếch đại và giảm tiếng ồn. - Amply: Sử dụng amply riêng biệt cho mỗi hệ thống loa trong nhà yến.
Loại amply chuyên dụng có đầu đọc USB, thẻ nhớ. Điều chỉnh âm lượng của từng hệ thống sao cho phù hợp, giảm dần từ loa mái nhà vào đến loa góc. Phần tạo ẩm: gồm hệ thống tạo ẩm trong nhà, ngoài nhà yến. - Trong nhà yến: Dùng pet phun sương hoặc một số máy phun sương chuyên dụng để duy trì độ ẩm ổn định, tránh phun gần phần gỗ hay để đọng nước ra sàn.
Không được phun quá nhiều, tùy theo thời điểm khí hậu và đặc điểm địa lý để cài đặt giờ phun hoặc mức phun tự động. - Ngoài nhà yến : Làm mát hệ thống mái nhà, cho chim tắm trong những ngày nắng nóng. Sử dụng những béc phun lớn tạo hơi sương, hạ thấp nhiệt độ và nâng độ ẩm cho một khoảng không khí bảo phủ quanh mái nhà, giúp chim cảm nhận được sự khác biệt so với những vùng lân cận. - Hỗ trợ tạo ẩm bằng hồ nước, thùng nước đặt trong nhà (tránh làm hồ nước những tầng trên).
- Làm hào nước quanh nhà để ngăn chặn kiến, gián, chuột và hỗ trợ luồng không khí mát cho hệ thống thông gió. Phần hóa chất nhà yến: 2 loại BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP – Y SINH 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT - Hóa chất tạo mùi: Tạo mùi bầy đàn, xóa đi những mùi không cần thiết như mùi gạch đá xi măng, mùi do thi công, mùi gỗ…Tạo nên một bầu không khí như có hàng trăm cặp chim đang ở trong nhà. Thông thường sử dụng 4 loại kết hợp: KW3, PW, bột mùi (trắng) và phân chim thật.
- Hóa chất kích thích (hormone; pheromone): kích thích tuyến nước bọt, tạo mùi hưng phấn cho chim ở lại và làm tổ. Sử dụng nhiều trong trong trường hợp chim vào nhà nhiều nhưng ít ở, ít làm tổ. Những thiết bị phụ trợ khác: timer, đèn chống cú, lọc nước, camera, bộ dự trữ điện, tổ giả,… 2. TỔNG QUAN VỀ WEBSITE 2.
Giới thiệu về Internet Internet là một liên mạng máy tính toàn cầu được hình thành từ các mạng nhỏ hơn, liên kết hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông. Internet là mạng của các mạng máy tính. Trong mạng này, các máy tính và các thiết bị mạng giao tiếp với nhau bằng một ngôn ngữ thống nhất. Đó là bộ giao thức TCP/IP (Transmision Control Protocol – Internet Protocol).1: Giao thức TCP/IP.
TCP/IP là một bộ các giao thức trao đổi thông tin được sử dụng để kết nối các thiết bị mạng trên Internet. TCP/IP chỉ định cách dữ liệu được trao đổi qua Internet bằng cách cung cấp thông tin trao đổi đầu cuối nhằm mục đích xác định cách thức nó được chia thành các gói, được gắn địa chỉ, vận chuyển, định tuyến và nhận ở điểm đến. Có hai giao thức mạng chính trong bộ giao thức mạng phục vụ các chức năng cụ thể. BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP – Y SINH 7 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT - TCP xác định cách các ứng dụng tạo kênh giao tiếp trong mạng.