CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ HOẠCH BDSC PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI Ô TÔ 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ HOẠCH 1. Khái niệm và phân loại kế hoạch a. Một số khái niệm - Kế hoạch: Là một bản dự kiến về mục đích, nội dung cũng như phương thức và các điều kiện để thực hiện một hoạt động nào đó của con người.
- Kế hoạch hóa: là sự vận dụng các quy luật kinh tế khách quan vào thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai. Thực chất của kế hoạch hóa là quá trình dự báo diễn biến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo các quy luật phát triển của nó. Muốn xây dựng kế hoạch đòi hỏi phải nghiên cứu một cách đầy đủ quy luật phát triển của hiện tượng trong quá khứ, đánh giá đúng đắn hiện tượng tại thời điểm hiện tại để từ đó tiên đoán đúng quy luật vận động của hiện tượng trong tương lai. - Kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Là hệ thống các phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, tài chính cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp đặt ra trong kỳ kế hoạch nhất định.
Phân loại kế hoạch ➢ Theo thời gian: - Kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch tác nghiệp) - Kế hoạch trung hạn (kế hoạch từ 1 năm – 5 năm) - Kế hoạch dài hạn (kế hoạch từ 5 năm trở lên) Thông thường các kế hoạch theo tiêu thức thời gian có mối quan hệ với nhau. Kế hoạch dài hạn là định hướng phát triển lớn mang tính chiến lược còn kế hoạch ngắn hạn và trung hạn là sự cụ thể hóa của định hướng chiến lược đó trong điều kiện và thời gian cụ thể và từ việc thực hiện những kế hoạch ngắn hạn và trung hạn doanh nghiệp sẽ có sự điều chỉnh những định hướng chiến lược dài hạn của bản thân cho phù hợp ➢ Theo nội dung: Trong doanh nghiệp vận tải kế hoạch sản xuất kinh doanh bao gồm các nội dung sau: - Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vận tải. 3 - Kế hoạch khai thác và quản lý kỹ thuật phương tiện. - Kế hoạch lao động tiền lương.
- Kế hoạch giá thành của sản phẩm vận tải. - Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản. - Kế hoạch tài chính. - Kế hoạch ứng dụng khoa học kỹ thuật.
Trong đó kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vận tải là cơ sở để xác định các loại kế hoạch khác. ➢ Theo cấp quản lý: - Kế hoạch phát triển chung của nền kinh tế quốc dân - Kế hoạch ngành - Kế hoạch các tỉnh thành phố - Kế hoạch của doanh nghiệp 1. Vai trò của kế hoạch. - Kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động trong tương lai, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường, tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực và thiết lập những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra.
Hiện nay trong phạm vi nền kinh tế quốc dân thì kế hoạch là một trong những công cụ điều tiết chủ yếu của Nhà nước. Còn trong phạm vi một doanh nghiệp hay một tổ chức thì kế hoạch là khâu đầu tiên là chức năng quan trọng của quá trình quản lý và là cơ sở thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, đạt được mục tiêu đề ra. - Ngày nay đối với một doanh nghiệp thì kế hoạch có những vai trò to lớn sau: + Giúp cho doanh nghiệp ứng phó với sự bất định và sự thay đổi Sự bất định và sự thay đổi làm cho việc lập kế hoạch thành tất yếu. Tương lai rất ít khi chắc chắn và tương lai càng xa thì kết quả của quyết định mà ta cần phải xem xét sẽ càng kém chắc chắn và khó dự báo.
Do vậy, lập kế hoạch có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, nó phản ánh khuynh hướng, triển vọng mà người ta dự định trong tương lai. + Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức, nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức trong môi trường hoạt động 4 Khi mà lập kế hoạch được thực hiện tốt, nó sẽ tạo ra một “cơ sở vững chắc” cho các chức năng quản lý khác: tổ chức - xắp xếp và phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu nhiệm vụ; lãnh đạo - chỉ đạo những nỗ lực về nguồn lực con người để đảm bảo mức độ cao của nhiệm vụ được hoàn thành, và kiểm soát - giám giám thực hiện nhiệm vụ và tiến hành những can thiệp cần thiết. + Thống nhất được các hoạt động tương tác giữa các bộ phận trong doanh nghiệp Lập kế hoạch là chất keo gắn kết các thành viên trong tổ chức, nó làm cơ sở cho hoạt động của các thành viên, tạo nên sự hành động và khuyến khích tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên. + Kế hoạch giúp cho việc kiểm soát của doanh nghiệp trở nên dễ dàng Lập kế hoạch và kiểm soát phải kết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình quản lý.
Nếu không có lập kế hoạch, kiểm soát sẽ thiếu những tiêu chuẩn và mục tiêu cho việc đo lường những thứ mà họ làm tốt và làm thế nào để nó trở nên tốt hơn. Không có kiểm soát, lập kế hoạch thiếu những thứ theo sau, thông qua nhu cầu để đảm bảo rằng những thứ sẽ được thực hiện theo kế hoạch. Như vậy, lập kế hoạch quả thật là quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý. Nếu không có kế hoạch thì nhà quản lý có thể không biết tổ chức, khai thác con người và các nguồn lực khác của doanh nghiệp một cách có hiệu quả, thậm chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác.
Không có kế hoạch, nhà quản lý và các nhân viên của họ sẽ rất khó đạt được mục tiêu của mình. Nguyên tắc xây dựng kế hoạch - Đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn của kế hoạch: Theo nguyên tắc này một kế hoạch đề ra cần phải đảm bảo có đầy đủ căn cứ khoa học cũng như thực tiễn và phải phù hợp với quy luật khách quan, mang tính khả thi cao. Tính khả thi được xem xét trên các phương diện chủ yếu như: công nghệ và kỹ thuật, nhân lực, tài chính. - Đảm bảo tính hiệu quả: Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng kế hoạch cần phải xem xét đầy đủ các biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và tận dụng tối đa các tiềm năng nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả kinh doanh cao nhất.
- Đảm bảo tính toàn diện, cân đối và mang tính hệ thống cao: Khi xây dựng kế hoạch của một doanh nghiệp cần phải xem nó như là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế bởi vậy nó phải phù hợp với chiến lược chung của ngành và định hướng phát triển của toàn nền kinh tế quốc dân. Trong kế hoạch phải đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa các mặt kế hoạch và giữa các kế hoạch với nhau. Ngoài ra cần phải cân đối giữa 5 nhu cầu thị trường và khả năng chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp, cân đối giữa thị phần và khả năng các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Các phương pháp xây dựng kế hoạch Phương pháp lập kế hoạch là tập hợp các cách thức dự báo, tính toán được sử dụng trong quá tình lập kế hoạch.
* Phương pháp cân đối - Thực chất cân đối là so sánh giữa nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp về một hoạt động kinh doanh nào đó cũng như một loại nguồn lực nào đó. - Về mặt chỉ tiêu trong kế hoạch có thể cân đối theo chỉ tiêu hiện vật hoặc chỉ tiêu giá trị. Thông thường các mối cân đối chủ yếu trong kế hoạch là: + Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về nguồn các yếu tố đầu vào cho quá trình SXKD vận tải (Đầu vào: nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng vật tư, phương tiện vận tải…) + Cân đối giữa năng lực SXKD của doanh nghiệp và khả năng tiêu thụ sản phẩm vận tải trên thị trường. Đây là mối cân đối quan trọng nhất là cơ sở cho các mối cân đối khác.
+ Cân đối về mặt thời gian và không gian: về mặt thời gian cân đối giữa các mục tiêu lâu dài, trung, ngắn hạn. Về mặt không gian vận tải cân đối giữa năng lực sản xuất và nhu cầu tối đa. * Phương pháp toán thông kê Thường được dùng để xây dựng kế hoạch chung và dài hạn, thực chất là sử dụng các mô hình toán kinh tế được xây dựng trên cơ sở thu thập, xử lý số liệu thống kê qua nhiều năm. Có 2 dạng mô hình sử dụng phổ biến là: + Hàm xu thế: đây là mô hình đơn giản với nhân tố ảnh hưởng là thời gian.
+ Phân tích tương quan nhiều yếu tố (mô hình hồi quy đa nhân tố): trong mô hình này người ta thường chọn các nhân tố có ảnh hưởng chính đến chỉ tiêu cần lập kế hoạch để đưa vào mô hình. - Ưu điểm: Phương pháp này lượng hóa được các nhân tố ảnh hưởng nên cho kết quả khá chính xác. - Nhược điểm: Các nhân tố tiêu cực cũng như xu thế tiêu cực đều được ngoại suy trong tương lai. 6 * Phương pháp phân tích tính toán Phương pháp này thường được sử dụng trong xây dựng kế hoạch trung và ngắn hạn bởi vì nó đi sâu vào phân tích tính toán các chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch.
Thông thường khi sử dụng phương pháp này, người ta dùng các chỉ tiêu như chỉ số tăng bình quân, tốc độ tăng trưởng bình quân để tính toán các chỉ tiêu. Để tính toán cần xác định các nhân tố ảnh hưởng trong kỳ kế hoạch và lượng hóa các mức độ ảnh hưởng của nó đến chỉ tiêu tính toán và bằng các phương pháp tính toán để xác định mức độ đạt được của từng chỉ tiêu. * Phương pháp tương tự - Bản chất của phương pháp tương tự là phát triển các hiện tượng đã xuất hiện vào các địa điểm và thời gian khác nhưng với điều kiện là bản chất của 2 hiện tượng là giống nhau hay chính là sự vận dụng của các hiện tượng hoặc quá trình diễn ra ở không gian, thời gian khác với thời gian, không gian mà ta cần nghiên cứu. Phương pháp này có 3 dạng: + Tương tự về hình thức biểu hiện của hiện tượng.
+ Tương tự về bản chất của hiện tượng. + Tương tự về quy luật vận động của hiện tượng.