Đặt vấn đề Trong những năm gần đây với sự phát triển không ngừng về khoa học kỹ thuật của nhân loại đã bước lên một tầm cao mới, rất nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật, các phát minh sang chế mang đậm bản chất hiện đại và có tính ứng dụng cao. Là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, nước ta đã và đang có cải cách mới để thúc đảy kinh tế. Việc tiếp nhận, áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới được nhà nước quan tâm nhằm cải tạo, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành công nghiệp mới, với mục đích đưa nước ta từ một nước công ngiệp kém phát triển thành một nước công nghiệp phát triển. Trong các ngành công nghiệp mới đang được nhà nước chú trọng, đầu tư phát triển thì công nghiệp ô tô là một trong số những tiềm năng đang được quan tâm.
Nhu cầu về sự phát triển của các loại ôtô ngày càng cao, các yêu cầu kỹ thuật ngày càng đa dạng. Các loại ôtô chủ yếu sử dụng trong công nghiệp, giao thông vận tải. Khoảng 20 năm gần đây ôtô đã có những bước tiến rõ rệt. Ngày nay ôtô được sử dụng rộng rãi như một phương tiện đi lại thông dụng cho nên các trang thiết bị, các bộ phận trên ôtô ngày càng hoàn thiện và hiện đại hơn nhằm đảm bảo độ tin cậy, an toàn và tiện dụng cho người sử dụng.Hệ thống bôi trơn là một trong những hệ thống rất quan trọng trên động cơ ô tô,nó ảnh hưởng trược tiếp đến tính năng sử dụng và tính kinh tế.
Đề tài giúp sinh viên có thể củng cố kiến thức, tổng hợp và nâng cao kiến thức chuyên ngành cũng như kiến thức ngoài thực tế, xã hội, để các sinh viên trong trường đặc biệt là khoa Cơ khí động lực tham khảo, học hỏi tạo tiền đề nguồn tài liệu cho các học sinh, sinh viên khoá sau có thêm nguồn tài liệu để nghiên cứu và học tập. Những kết quả thu được sau khi hoàn thành đề tài này trước tiên là sẽ giúp em có thể hiểu sâu hơn về hệ thống bôi trơn.2 Mục tiêu đề tài Hiểu kết cấu, mô tả nguyên lý làm việc của cơ cấu, hệ thống trên ôtô, nắm được cấu tạo, mối tương quan lắp ghép của các chi tiết, cụm chi tiết. Thực hiện tính toán thiết kế hệ thống bôi trơn trên dòng xe Toyota Prius 2012.3 Nội dung đề tài Tuần 1: Giao đề tài. Tuần 2: Phân tích và lấy số liệu chi tiết thiết kế.
Tuần 3: Lên kế hoạch, quy trình thiết kế chi tiết. Tuần 4: Tính toán và thiết kế sơ bộ hệ thống. Tuần 5, 6: Thiết kế chi tiết theo quy trình đã vạch ra. Tuần 7, 8: Hoàn chỉnh bản vẽ thiết kế 3D gồm 3 hình chiếu và mặt cắt.
Tuần 9: Chỉnh sửa bản vẽ thiết kế 3D (nếu cần). Tuần 10: Hoàn chỉnh đồ án. Đóng thành cuốn cho giảng viên ký duyệt để tiến hành bảo vệ đồ án.4 Phương pháp nghiên cứu Các tài liệu tham khảo học thuật được cung cấp bởi giảng viên, mô hình Toyota Prius 2012 được lấy như một sản phẩm tham khảo để điều tra động lực học, logic điều khiển; để kiểm tra mô hình, cũng để mô hình hóa hiệu suất gần đúng và cùng với các thông tin được internet cung cấp, các quá trình thực nghiệm đã hỗ trợ phần nào cho việc nghiên cứu. a) Các bước thực hiện Bước 1: Quan sát,tìm hiểu các thông số kết cấu của hệ thống bôi trơn Bước 2: Lập phương án tính toán và thiết kê hệ thống bôi trơn b) Các bước thực hiện Bước 1: Thu thập, tìm tòi các tài liệu về hệ thống bôi trơn.
Bước 2: Sắp xếp các tài liệu khoa học thành một hệ thống chặt chẽ theo từng bước, từng đơn vị kiến thức, tưng vấn đề khoa học có cơ sở và bản chất nhất định. Bước 3: Đọc, nghiên cứu và phân tích các tài liệu nói về “hệ thống bôi trơn”, phân tích kết cấu, nguyên lý làm việc một cách khoa học. 2 Bước 4: Tổng hợp kết quả đã phân tích được, hệ thống hoá các kiến thức liên quan(liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã phân tích) tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ và sâu sắc. Bước 5: Bắt đầu thực hiện tính toán và vẽ bảng vẽ hệ thống bôi trơn.5 Giới Thiệu Về Các Hệ Thống Chính Trong Động Cơ ô tô Từ những hiểu biết và nghiêm cứu trong quá trình học tập ở trong động cơ đốt trong.
Bao gồm các hệ thống chính: hệ thống làm mát, hệ thống đánh lửa, hệ thống bôi trơn. Nhóm em đã quyết định cùng nghiêm cứu tính toán thiết kế đề tài về hệ thống bôi trơn trên xe ô tô Toyota. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA HỆ THỐNG BÔI TRƠN TRÊN XE Ô TÔ TOYOTA 2. Công dụng chung 2.1 công dụng Khi động cơ làm việc, có rất nhiều chi tiết trong động cơ có sự tiếp xúc và chuyển động tương đối với nhau.
Khi đó, nhiệt độ sẽ tạo ra giữa các bề mặt ma sát và lượng nhiệt này càng lớn đối với những chi tiết trong buồng đốt, làm cho các chi tiết bị mài mòn nhanh chóng, giảm tuổi thọ của động cơ. Hệ thống bôi trơn trên động cơ đốt trong có nhiệm vụ cung cấp một lượng dầu bôi trơn với áp suất và lưu lượng thích hợp đến các bề mặt của những chi tiết máy có chuyển động tương đối, như: Mặt gương xylanh, piston, xecmang, và đôi khi cả trục cam và các bánh răng được bôi trơn bằng nhớt phun ra từ các khe hở hoặc các lỗ đặc biệt ở ổ đỡ chính và ổ đỡ biên. Chốt piston có thể được bôi trơn bằng nhớt đi lên từ ổ đỡ biên qua các lỗ hoặc ống dọc thân thanh truyền hoặc được bôi trơn bằng hơi dầu.2 Hệ thống bôi trơn trên động cơ Một số chi tiết của động cơ có thể được bôi trơn bằng cách khác, ngoài các phương pháp giới thiệu ở trên. Ví dụ: trục đòn gánh có thể được bôi trơn bằng các bấc thấm dầu theo định kỳ; mặt gương xylanh của một số động cơ kích thước lớn được bôi trơn bằng nhớt dưới áp suất lớn (tới 50 bar) do các bơm kiểu piston cung cấp qua các lỗ bố trí tại các vị trí thích hợp trên xylanh.
4 Dầu bôi trơn được sử dụng trong động cơ đốt trong có tác dụng: - Làm trơn các bề mặt có chuyển động tương đối nhằm giảm ma sát, mài mòn là tăng hiệu suất cơ giới và tuổi thọ của động cơ. - Rửa sạch bề mặt ma sát, trong quá trình làm việc có các vảy kim loại bị tróc ra khỏi bề mặt ma sát. Những thành phần này được dầu bôi trơn cuốn trôi và giữ lại trong các bầu lọc. - Làm mát các chi tiết, đặt biệt là các chi tiết chịu nhiệt độ cao trong quá trình làm việc (piston, xi lanh,.
Dầu từ hệ thống bôi trơn có nhiệt độ thấp được đưa đến tiếp xúc và giải nhiệt cho các bề mặt có nhiệt độ cao hơn. - Bao kín khe hở giữa các chi tiết quan trọng như piston, xi lanh, xéc măng ,. - Chống ôxi hoá, bảo vệ được các chi tiết do trong dầu bôi trơn có các chất phụ gia có khả năng chống ôxy hoá bề mặt kim loại 2.2 Các đặc tính cơ bản của dầu bôi trơn a. Độ nhớt và sức bám dầu bôi trơn - Độ nhớt: Là phẩm chất quan trọng của dầu.
+ Dầu có độ nhớt lớn thì đặc, chảy khó. + Dầu có độ nhớt loãng, chảy dễ. - Sức bám là khả năng dính bám của dầu vào các mặt chi tiết máy. + Dầu có độ nhờn lớn, độ bám cao cản trở sự chuyển động của các chi tiết máy.
+ Dầu có độ nhờn bé, độ bám thấp không bảo đảm việc bôi trơn tốt. Bởi vậy, việc lựa chọn loại dầu bôi trơn thích hợp cho từng bộ phận máy là quan trọng để tăng tuổi thọ của máy, đảm bảo động cơ làm việc bình thường. - Độ nhớt thay đổi theo nhiệt độ, nhiệt độ càng cao độ nhớt càng giảm. Tính ổn định của dầu nhờn Dầu nhờn có tính ổn định tốt có nghĩa là chịu sự thay đổi của nhiệt độ, không khí và nước.
Tính ăn mòn Dầu nhờn không được lẫn tạp chất cơ học hoặc axít, bazơ hay nước lã. Các tạp chất này tăng sẽ làm kém phẩm chất của dầu nhờn và làm mòn nhanh các bề mặt tiếp xúc. Yêu cầu Hệ thống bôi trơn đạt chuẩn gồm có cái tiêu chí sau: 5 Đảm bảo dầu bôi trơn phù hợp Không quá nóng khi hoạt động Lọc các cận bẩn lẫn trong dầu bôi trơn và làm sạch các bề mặt ma sát Phải đưa dầu bôi trơn đầy đủ tới các bề mặt ma sát để bôi trơn 2.3 Cấu tạo chung 2.1 Bơm dầu Bơm dầu có nhiệm vụ cung cấp liên tục dầu nhờn có áp suất cao đến các bề mặt ma sát để bôi trơn, làm mát và tẩy rửa mặt ma sát. Hiện nay, người ta thường dùng bơm: Bơm bánh răng, bơm cánh gạt.
Bơm bánh răng - Bơm bánh răng ăn khớp ngoài: Kết cấu của bơm bánh răng rất đơn giản, nó gồm có hai bánh răng (số răng thường ít hơn 17) được dẫn động theo chiều nhất định. Đối với bơm bánh răng, lưu lượng và hiệu suất bơm của nó phụ thuộc rất nhiều vào khe hở hướng kính giữa đỉnh răng với mặt lỗ khoang lắp bánh răng và khe hở dọc trục giữa mặt đầu bánh răng với mặt đầu nắp bơm dầu. Thông thường các khe hở này không vượt quá 0,1mm. Bơm cánh gạt Bơm gồm một trục bơm trên có phay rãnh hướng kính để lắp các cánh gạt (số lượng cánh gạt từ 2÷20 tuỳ theo kích thước của bơm).
Trục bơm lắp lệch tâm với vỏ bơm tạo nên các khoang chứa dầu áp suất thấp và áp suất cao. Bơm cánh gạt cũng dùng van an toàn như các loại bơm bánh răng.2 Lọc dầu Để đảm bảo phẩm chất dầu bôi trơn cần có thiết bị lọc. Bởi lẽ trong quá trình sử dụng các tạp chất thường có lẫn trong dầu: Mạt sắt do mài mòn sinh ra, bụi, cát, muội than cháy rớt vào dầu hoặc tạp chất hoá học, v.v… Nếu phân theo chất lượng lọc thì có hai loại: Lọc thô: Lọc được các tạp chất lớn hơn 0,03 mm và 100% số dầu bôi trơn đều phải qua bình lọc này. 6 Lọc tinh: Lọc được các tạp chất có đường kính hạt 0,1µm.
Lọc các tạp chất keo, nước lã, thậm chí cả axít lẫn trong dầu nữa. Lượng dầu qua bình lọc tinh không quá 20%. Dầu sau khi qua bình lọc tinh được trả về Cacte.