CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu đề tài Bệnh tim mạch (CVD) là do các rối loạn của tim và mạch máu. Bệnh tim mạch bao gom bệnh mạch vành (nhồi máu cơ tim), tai biến mạch máu não (đột quy), tăng huyết áp tăng (cao huyết áp), bệnh động mạch ngoại biên, bệnh thấp tim, bệnh tim bẩm sinh và suy tim. Các nguyên nhân chính của bệnh tim mạch là sử dụng thuốc lá, thiếu hoạt động thể lực, chế độ ăn uống không lành mạnh và sử dụng rượu-bia ở mức độ nguy hại. Vì vậy, hầu hết các bệnh tim mạch có thể phòng ngừa được bằng cách giải quyết các yêu tô nguy cơ hành vi này.
Tuy nhiên, hiện tại bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu, chiếm tới 31% tông số ca tử vong. Tại Việt Nam, bệnh tim mạch chịu trách nhiệm cho 31% tổng số ca tử vong trong năm 2016 tương đương với hơn 170. - Tỷ lệ tử vong toàn cầu CVD Bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu: số người chết hàng năm do bệnh tim mạch cao hơn bất kỳ nguyên nhân nào khác. Ước tinh co 17,9 triệu người chết vì bệnh tìm mạch trong năm 2016, chiếm 31% tổng số ca tử vong trên toàn cầu.
Trong số này, 85% là do nhồi máu cơ tim và đột quy. - Ty lệ tử vong CVD và bệnh tật Việt Nam Tại Việt Nam, các bệnh tim mạch là nguyên nhân gây ra 31% tổng số ca tử vong trong năm 2016. Tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành từ 18-69 tuổi là 18,9%, theo điều tra quốc gia yêu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm STEPS năm 2015: tuy nhiên chỉ có 13,6% bệnh nhân tăng huyết áp được báo cáo là được quản lý tại một cơ sở y tế. - Phát hiện và quản lý CVD Những người mắc bệnh tim mạch hoặc có nguy CƠ cao mắc bệnh tim mach (Do có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng lipid máu) cần được phát hiện và quản lý sớm thông qua tư vấn và dùng thuốc.
Sự hỗ trợ của WHO cho phòng chống bệnh tim mạch chủ yếu tập trung vào kiểm soát thuốc lá, giảm tiêu thụ muối và quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại các trạm y tế xã.2 Lý do chọn đề tai. Hiện nay kỹ thuật học máy đã ngày càng phát triển và có được ứng dụng vô cùng lớn vào các lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực Y Tá-Điều dưỡng, lĩnh vực phân tích đữ liệu,lĩnh vực báo chí và y học,. Mà trong y hoc thi ky thuật học máy dựa trên bộ dữ liệu được thu thập từ nhiều bệnh nhân trước đó có thê được sử dụng để huấn luyện và đưa ra dự đoán bệnh đối với các bệnh nhân có thê biết được bản thân có mắc bệnh hay không, nhằm phục vụ cho việc phát hiện kịp thời để chữa trị và phòng tránh các nguy cơ rủi ro có thê xảy đến vì vậy em quyết định chọn đề tai này để áp dụng học máy vào y học sử dụng Thuật Toán KNN Đề Dự Doan Bệnh Tim mach 1.3 Mục tiêu của đề tai. Bệnh Tìm mạch gây trở ngại cho sinh hoạt và công việc hằng ngày của người bệnh.
Bệnh tăng lên từ từ không ngừng và mục đích của nghiên cứu này nhằm áp dụng kỹ thuật học máy vào y học để chuẩn đoán được những người sẽ có nguy cơ mắc căn bệnh về Tim mach. Giúp các cá nhân có thé dự đoán duoc kha nang co thé có mắc bệnh Tim, dé có thê chữa bệnh kỊp thời đưa ra các chính sách chăm sóc sức khỏe vừa chữa trị, vừa phòng ngừa bệnh tiêu đường phát tác, dự đoán nguy cơ mắc bệnh tiêu đường. Dựa vào việc chân đoán, phát hiện kịp thời có thể ngăn ngừa các nguy cơ, nguy hiểm đến tính mạng xảy ra.4 Công nghệ áp dụng. Người bệnh tim mạch trong tương lai sẽ hưởng nhiều lợi ích hơn khi họ được chân đoán và điều trị bệnh với các thiết bị tiên tiễn, công nghệ mới nhất.
Sau đây là ứng dụng công nghệ trong điều trị bệnh tìm mạch được nghiên cứu và áp dụng trong điều trị ở một số quốc gia trên thé giới. ® Kính thông minh Google Glass trong phẫu thuật tim mạch @ Stent phi thuéc co khung ty tiéu (Bioresorbable Vascular Scaffold ) @ May tao nhip tim Leadless ® Miếng vá chứa protein tự nhiên giúp tái sinh tế bao co tim đã chết CHUONG II: CO SO LY THUYET 2.1 Giới thiệu về bệnh tìm mạch. Trai tim của chúng ta hoạt động như một cai bom dé bom mau đưa máu ổi tới khắp các mô cơ quan trong cơ thể. Đề đảm bảo được chức năng bơm máu một cách đều đặn khoảng 70-80 lần/phút, từ ngày này sang ngày khác, bản thân trái tim cũng được nuôi dưỡng bởi một hệ thống mạch máu riêng.
Hệ thong mach mau nay goi la hé mach vành. Danh từ mạch vành để chỉ tình trạng bệnh lý làm cho lòng động mạch vành bị hẹp lại hoặc tắc nghẽn. Khi lòng động mạch vành bị hẹp đến một mức độ nào đó thì dòng máu đến nuôi tim sẽ không đủ và dẫn đến tinh trạng thiếu máu cơ tim. Bệnh mạch vành còn có nhiều tên gọi khác như: Thiêu năng vành, suy động mạch vành, thiếu máu cơ tim hay bệnh tim thiếu máu cục bộ Cục máu đông gây tắc mạch Động mạch vành Màng xơ vữa động mạch KT | Co tim bình thường Co tim bị hoại tử Hình 1: VỊ trí giải phẫu của Tìm Nguyên nhân Nguyên nhân thường gặp là do mảng xơ vữa bám vào lòng mạch, mảng xơ vữa gây phản ứng viêm, có thê lớn dần gây hẹp nặng lòng mạch và khi vỡ dễ dẫn đến nhồi máu cơ tìm.
Ngoài ra một số trường hợp mạch vành bị co thắt gây hẹp mạch vành từng lúc cũng gây ra triệu chứng đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim. Nguyên nhân xơ vữa động mạch thì chưa được xác định rõ ràng tuy nhiên khi nói đến nguyên nhân của bệnh tim mạch người fa dùng đên khái niệm "yêu tô nguy cơ”. Yêu tô nguy cơ của bệnh tim mạch là những yêu tố mà khi hiển diện ở một cá thê nào đó thì làm cho cá thể đó có tỷ lệ mắc bệnh tim cao hơn cá thê khác. Những yếu tô nguy cơ của bệnh tim là: tăng huyết áp, rồi loạn lipid máu, hút thuốc lá, béo phì, đái tháo đường, cuộc sống công việc có nhiều căng thắng, ít vận động, gia đình có người bị bệnh tim sớm, nam giới, cao tuổi.
Triệu chứng « Đau ngực: triệu chứng của chứng thiếu máu cơ tim thường hay gặp nhất là đau ngực. Đau khởi phát khi gắng sức, ở ngay sau xương ức, đau nhói, thắt chặt và lan ra vai trái, cảnh tay trái, bàn tay trái. Đau giảm đi khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc dãn mạch. Nếu cơn đau xuất hiện lúc nghỉ ngơi hoặc cơn đau quá trầm trọng, cơn đau quá 30 phút thì phải nghĩ đến là bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp.
« Một số người già, những người bị bệnh tiểu đường, bệnh phôi tắc nghẽn mãn tính khi mắc bệnh mạch vành có thể không có triệu chứng đau thắt ngực như trên mà thay vào đó là mệt hoặc khó thở khi gắng sức. Những trường hợp đó gọi là thiểu máu cơ tim yên lặng. Những thăm dò để chấn đoán bệnh Tim mạch « Điện tâm đồ lúc nghỉ: thiếu máu cơ tim làm thay đổi điện học của cơ tim và điện tâm đồ phát hiện ra các thay đôi đó. Tuy nhiên, chỉ khoảng 50% bệnh nhân bị bệnh tim có thay đổi tín hiệu điện tâm đồ.
« Siêu âm tim: Tình trạng thiểu máu cơ tim làm ảnh hưởng đến sự co bóp của tim. Những vùng giảm động do thiếu máu cơ tim gây ra sẽ được phát hiện qua siêu âm tim. « Điện tâm đồ và Siêu âm tim lúc gắng sức: Nếu lòng động mạch vành chỉ hẹp nhẹ thì triệu chứng thiếu máu cơ tim chỉ xảy ra khi gắng sức. « Xạ hình tưới máu cơ tim: Dùng chất đồng vị phóng xạ bơm vào mạch máu.
Những vùng nào của cơ tim bị thiếu máu nuôi sẽ giảm hoặc không bắt được đồng vị phóng xạ. Sau đó, dùng máy Scan đề phát hiện các vùng đó. « Chụp động mạch vành chọn lọc: là tiêu chuân vàng để chấn đoán bệnh tim mạch. Thông qua thăm dò này, bác sĩ sẽ biết được tình trạng tim mạch của bạn như thế nào.2 Các hệ thống chuẩn đoán bệnh Tim 2.1 Các hệ thống chuẩn đoán dựa vào chỉ số nguy cơ mắc bệnh tim.
Nghiên cửu Framingham là một nghiên cứu được tiễn hành trên một bộ phân dân cư của thị trần Framingham (hạt Middlesex, bang Massachusettes, Hoa kỳ). Dân số ban đầu gồm 5029 người đàn ông và phụ nữ khỏe mạnh độ tuổi từ 30 đến 62, được theo dõi từ năm 1948. Đến năm 1971, các nhà nghiên cứu tuyển thêm một thế hệ thứ hai là con của những người tham gia ban đầu cùng với vợ (hoặc chồng) của những người con này. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 3969 người đàn ông và 4522 phụ nữ.
Trong quá trình theo dõi, các nhà nghiên cứu ghi nhận các biên cô tim mạch nặng xảy ra cho những người tham gia. Cùng với một số nghiên cứu dịch tễ khác, nghiên cứu Framingham cho phép xác định các yếu tô nguy cơ chính của bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch: hút thuốc lá, tăng huyết áp, tăng cholesterol, đái thảo đường, HDL thấp. Từ các dữ liệu thu thập được, các nhà nghiên cứu dùng một mô hình toán học dé ước tính xác suất bị các biến cô tim mạch trong 10 năm tới của một người dựa vào giới tính, tuổi, cholesterol toàn phần, HDL, huyét ap tam thu, tinh trạng hút thuốc lá, có đái tháo đường hay không, có điều trị tăng huyết áp hay không. Bước kế tiếp, các nhà nghiên cứu qui đôi từng khoảng trị số của các bién liên tục (tuổi, huyết áp.
Khi cộng tất cả các điểm lại ta có điểm tổng cộng cho từng người và ứng với mỗi điểm tông cộng là một xác suất ( bị các biến cô tim mạch trong 10 năm tới) tương ứng. Hệ thống Framingham xây dựng hai bảng điểm riêng biệt cho nam và nit. Trong hệ thông Framingham phiên bản năm 1998, biến có được dự báo là sự xuất hiện của bệnh tim ( đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim được nhận biết hoặc không, suy động mạch vành và chết do bệnh động mạch vành). Các biến được đưa vào bao gồm giới tính, tuổi, cholesterol toàn phần, HDL, huyết áp tâm thu, có đái tháo đường hay không, có hút thuốc lá hay không.
Dạng trình bày là cac bảng điểm dành riêng cho nam và nữ.