Chương 1: Cơ sở lý luận về thiết kế tuyến xe buýt trong thành phố. Chương 2: Hiện trạng vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội. Chương 3: Thiết kế tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tuyến 145 Hoàng Cầu – Cv Nước Hồ Tây. 2 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ TUYẾN XE BUÝT TRONG THÀNH PHỐ 1.Tổng quan về giao thông vận tải đô thị 1.1 Hệ thống giao thông vận tải đô thị.
Hệ thống GTVT đô thị gồm hai bộ phận chính, hệ thống giao thông và hệ thống vận tải. Hệ thống giao thông gồm hệ thống giao thông động và hệ thống giao thông tĩnh. Hệ thống vận tải gồm vận tải hành khách và vận tải hàng hóa. Vận tải hành khách bao gồm vận tải hành khách công cộng, vận tải cá nhân và vận tải bán công cộng.
Hệ thống giao thông vận tải đô thị Hệ thống giao Hệ thống vận tải thông Hệ thống giao Hệ thống giao Vận tải hành Vận tải hàng thông động thông tĩnh khách hóa Sự di chuyển Đường sá, Vận tải Vận tải Vận tải phương tiện, bến xe, yếu hành khách cá nhân bán công Hk trên đường tố khác công cộng cộng Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống giao thông vận tải đô thị 1.2 Nhu cầu đi lại trong đô thị. a) Khái niệm nhu cầu đi lại Nhu cầu đi lại là số lượng chuyến đi bình quân của một người trong một đơn vị thời gian. Kí hiệu: N, đơn vị: chuyện đi/người/thời gian. Hệ số đi lại là số chuyến đi bình quân của một người trong một ngày.
Chuyến đi là sự di chuyển có mục đích với cự ly từ 500 mét trở lên. Nhu cầu đi lại là loại nhu cầu phát sinh, nó là kết quả khi con người muốn thỏa mãn các nhu cầu khác thuộc lĩnh vực đời sống và sản xuất. Phân loại nhu cầu đi lại: 3 Nhu cầu đi lại Theo mục Theo giới hạn Theo tính Theo cự ly đích: đi học, hành trình: chất chuyến chuyến đi: đi làm, đi Chuyến đi đi: thường ngắn (0,5- chơi trong thành xuyên, không 5km), trung phố, ngoại ô thường bình (5-20km), xuyên dài (>20km) Hình 1.2: Sơ đồ phân loại nhu cầu đi lại b) Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại Sự phát triển kinh tế xã hội – GDP/ngƣời/năm N I II III IV V GDP Hình 1.3: Mối quan hệ giữa GDP và số chuyến đi Khi GDP tăng lên, số lượng chuyến đi sẽ thay đổi theo các giai đoạn: Giai đoạn I: N tăng chậm nhanh Giai đoạn II: N tăng Giai đoạn III: N bão hòa Giai đoạn IV: N suy giảm Giai đoạn V: N suy giảm chậm Khi quy mô đô thị tăng lên thì nhu cầu đi lại tăng lên do diện tích rộng, số lượng các điểm thu hút nhiều thêm, có những loại điểm thu hút mà đô thị nhỏ không có. Do đó các chuyến đi thương mại, thăm thân tăng lên.1: Bảng nhu cầu đi lại của người dân Loại đô thị Dân số( triệu ngƣời) N (chuyến đi/ngƣời/năm) Siêu đô thị trên 10 900 - 1200 Loại I 1 800 - 950 Loại II 0,5 600 -850 Loại III 0,25 400 - 650 Loại IV 0.1 300 - 450 Loại V 0,05 250 - 350 * Sự phát triển của cơ sở hạ tầng đô thị: - Nếu đường sá thuận lợi nhu cầu đi lại tăng lên và ngược lại.
- Có vận tải hành khách công cộng, chi phí chuyến đi rẻ thì nhu cầu đi lại tăng lên và ngược lại. * Cơ chế, chính sách đối với VTHKCC và phương tiện cá nhân: Các cơ chế chính sách ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu đi lại: - Chính sách kinh tế: thuế, phí, giá. - Chính sách hành chính. * Sự phát triển giao thông vận tải đô thị và chất lượng dịch vụ VTHKCC: Sự phát triển giao thông đô thị thể hiện thông qua số lượng các loại phương thức VTHKCC trong thành phố: metro, xe buýt, tàu điện bánh sắt, tàu điện bánh hơi, monorail,.
Thành phố nào có đa dạng các loại phương thức vận tải đô thị hơn là thành phố có giao thông vận tải đô thị phát triển hơn. + Sự phát triển của thông tin, truyền thông Khi thông tin, truyền thông phát triển thì nhu cầu đi lại có xu hướng giảm tương đối. Con người không nhất thiết phải di chuyển mà vẫn có thể liên lạc với nhau, giảm số lượng chuyến đi, giảm ùn tắc, giảm tai nạn giao thông. * Điều kiện thời tiết khí hậu, phong tục tập quán: Khi trời mưa, lạnh, nhu cầu đi lại giảm, nhu cầu sử dụng phương tiện công cộng, taxi tăng lên.
Đây là yếu tố rất khó xác định, ta có thể biết chắc nó có ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại những ảnh hưởng bao nhiêu thì rất khó lượng hóa được. => Nhu cầu vận chuyển biến động theo thời gian và không gian ở những thời điểm khác nhau thì nhu cầu vận chuyển cũng khác nhau, nó bị chi phối bởi tính chu kỳ trong sinh hoạt và đời sống của hành khách. Do nhu cầu vận chuyển là nhu cầu phát sinh nên sự khác nhau về mức độ phát triển kinh tế - xã hội, số lượng, cơ cấu mật độ dân cư và sự phân bố dân cư, thu nhập. sẽ làm cho nhu cầu vận chuyển ở các đô thị, các vùng khác nhau.
Ở một thời điểm nào đó trong ngày, số chuyến đi hai hướng thường là khác nhau. Nhưng số lượng hành khách hướng đi và hướng về thường bằng nhau trong một khoảng thời gian nào đó tuỳ thuộc vào từng luồng hành khách và biến 5 động luồng hành khách vì vậy ta cần hiểu rõ những quy luật biến động của chúng: * Luồng hành khách: Luồng hành khách là số lượng hành khách theo một hướng, luồng hành khách có thể là luồng hành khách thường xuyên hoặc luồng hành khách không thường xuyên, luồng hành khách một chiều hoặc hai chiều. Luồng hành khách phản ánh số lượng hành khách theo từng đoạn và cả hành trình trong một đơn vị thời gian. Khối lượng vận chuyển là số lượng hành khách vận chuyển theo từng hành trình trong thời gian xác định (ngày, tháng, năm).
Lượng luân chuyển là chỉ tiêu phản ánh công tác vận tải là tích số của khối lượng vận chuyển và cự ly (độ dài) bình quân chuyến đi của hành khách. * Quy luật biến động luồng hành khách: - Quy luật biến động theo thời gian: + Biến động của luồng hành khách theo giờ trong ngày: Sự biến động này tạo nên giờ cao điểm, giờ thấp điểm, giờ bình thường. được quy luật này giúp cho việc lựa chọn sức chứa xe hợp lý, xác định được nhu cầu đi lại của hành khách theo giờ trong ngày để xác định tần suất chạy xe hợp lý, lập thời gian biểu cho từng hành trình. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi luồng hành khách theo giờ trong ngày bao gồm: Thời gian bắt đầu và kết thúc ca làm việc của các đơn vị sản xuất, đơn vị hành chính sự nghiệp, trường học, mạng lưới thương nghiệp, văn hóa, đời sống; chế độ làm việc của các phương thức vận tải khác nhau: Đường sắt, đường thủy, hàng không, mục đích của các chuyến đi (đi làm, đi học, đi mua bán, thưởng thức văn hóa), ngoài ra còn có những yếu tố khác như tổ chức triển lãm, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật.
Biến động luồng hành khách theo giờ trong ngày tạo ra giờ cao điểm, nó có liên quan tới giờ bắt đầu và kết thúc làm việc, chúng khác nhau giữa hướng đi và hướng về. Để đánh giá biến đổi luồng hành khách theo giờ trong ngày dùng hệ số không đồng đều theo giờ là tỉ số giữa lượng hành khách của giờ lớn nhất trong ngày với số lượng hành khách bình quân trong một giờ. Sự biến động của luồng hành khách theo giờ trong ngày của những ngày làm việc và những ngày nghỉ (chủ nhật, lễ, tết) không giống nhau. Vì vậy, thời gian biểu chạy xe không giống nhau giữa ngày làm việc và ngày nghỉ.
+ Biến động của luồng hành khách theo ngày trong tuần và theo tháng trong năm: Luồng hành khách biến động theo ngày trong tuần phụ thuộc vào: Chế độ làm 6 việc của các cơ quan xí nghiệp, hệ thống thương nghiệp, văn hóa, đời sống và chế độ làm việc của các phương thức vận tải khác nhau. Nhìn chung luồng hành khách trong thành phố giảm vào ngày nghỉ và giờ cao điểm cũng thay đổi cả chiều đi và chiều về. Luồng hành khách cũng thay đổi theo các tháng trong năm. Sự thay đổi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện kinh tế, địa lý, phong tục tập quán, thời tiết, khí hậu, các loại hình vận tải, trạng thái đường sá, độ dài một chuyên đi của hành khách, mạng lưới hành trình.
Các luồng hành khách trong thành phố sự biến động theo tháng trong năm không rõ nét. Luồng hành khách ngoại ô và liên tỉnh khối lượng hành khách tăng vào những tháng hè và dịp Tết, đồng thời với việc tăng chiều dài chuyến đi bình quân là do các nhu cầu đi tham quan, nghỉ mát, du lịch, trẩy hội, thăm viếng gia đình. Dựa vào biến động hành khách theo các tháng trong năm để xác định nhu cầu về phương tiện, mở thêm những tuyến mới trong thời gian cao điểm (trẩy hội, du lịch, tắm biển) tăng chuyến đi vào dịp lễ Tết, quốc khánh, kỳ thi đại học. * Quy luật biến động luồng hành khách theo không gian (theo chiều dài hành trình và theo hướng): Nghiên cứu sự biến động luồng hành khách theo không gian có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức vận tải hành khách.
Biến động theo không gian bao gồm biến động luồng hành khách theo chiều và theo điểm đỗ. * Biến động luồng hành khách theo chiều: Biến động luồng hành khách theo chiều rất phổ biến cho luồng hành khách trong thành phố, ngoại ô và đường dài. Nguyên nhân dẫn đến sự biến động luồng hành khách theo chiều do sự phân bố các đô thị trong khu vực. Luồng hành khách thay đổi theo hai chiều có khối lượng hành khách khác nhau, quy luật biến động này thường kèm theo biến động luồng hành khách theo thời gian.
Ở các nước phát triển đã áp dụng phương pháp xây dựng dải phân cách mềm, có thể điều chỉnh được để khi xảy ra biến động luồng hành khách theo chiều sẽ điều chỉnh được khoảng cách giữa hai chiều cho phù hợp với luồng hành khách. * Biến động luồng hành khách theo điểm dừng, đỗ: Hành khách không đi từ điểm đầu của hành trình đến cuối hành trình và có thể tập trung ở một số đoạn nhất định ví dụ tại các trường học, bệnh viện, chợ, bến xẻ,… 1.