Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về định vị thương hiệu. Chương 2: Thiết kế và Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng định vị thương hiệu của Công ty Cổ phần Thực phẩm Hữu Nghị. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện định vị thương hiệu của Công ty Cổ phần Thực phẩm Hữu Nghị.
3 c CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH VỊ THƢƠNG HIỆU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về thương hiệu Xuất phát từ việc nhận thức được ý nghĩa lý luận và thực tiễn về vai trò quan trọng của thương hiệu, tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án, các báo cáo nghiên cứu, các hội thảo về chiến lược thương hiệu, các hoạt động liên quan đến thương hiệu; nhưng có khá ít đề tài nghiên cứu cụ thể về định vị thương hiệu. Một số đề tài nghiên cứu về thương hiệu có thể kể đến như: Bùi Văn Quang (2008), “Xây dựng thương hiệu ngành mì ăn liền Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Luận án đã phân biệt được hai khái niệm nhãn hiệu và thương hiệu; đã giới thiệu một số yếu tố cấu thành thương hiệu cơ bản.
Tác giả luận án tập trung vào việc nhận diện giá trị thương hiệu theo góc độ thị trường. Tuy nhiên, những lý luận về thương hiệu của luận án còn chưa đầy đủ và thiếu tính hệ thống. Cần phát triển nghiên cứu này để làm rõ về giá trị thương hiệu và hệ thống hóa lý luận về thương hiệu. Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại (2009), “Bảo vệ và phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới”.
Đề tài nghiên cứu cấp bộ, Bộ Công thương, mã số 121. Trong đó, thương hiệu hàng hóa được định nghĩa là nhãn hiệu của hàng hóa sau khi hàng hóa được thương mại hóa. Nội dung của đề tài tập trung vào Quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu đăng ký và cho rằng thương hiệu là một hình thức phát triển của nhãn hiệu. Nghiên cứu này đề cập tới những nghiên cứu cụ thể hơn về 4 c Quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển thương hiệu và thống nhất quan niệm về thương hiệu.
Trần Ngọc Sơn (2009), “Xây dựng và phát triển thương hiệu ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện ngân hàng. Nội dung tác giả phân tích thấy được sự khác biệt giữa hai khái niệm nhãn hiệu và thương hiệu. Thương hiệu bao gồm nhiều yếu tố nhưng chưa hệ thống hóa riêng biệt được từng yếu tố cấu thành. Đề tài tập trung vào xác định giá trị thương hiệu và một số nhân tố chủ yếu của giá trị thương hiệu, căn cứ đề xuất một số giải pháp về thương hiệu cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chương trình thương hiệu cho sản phẩm, Chương trình định vị thương hiệu và Quảng bá thương hiệu.
Qua nhận định về việc xác định yếu tố cấu thành thương hiệu và xác định giá trị thương hiệu, tác giả cần hơn nữa những công trình nghiên cứu chuyên sâu để cụ thể hóa những vấn đề này. Chử Văn Nguyên (2009), “Nghiên cứu thực trạng sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu và đề xuất các biện pháp quản lý, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu của Tổng công ty Hóa chất Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu cấp bộ, Tổng công ty hóa chất Việt Nam, Bộ Công thương, mã số 253. Theo đó, Thương hiệu là nhãn hiệu kết hợp với một số yếu tố khác (như tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, phong cách kinh doanh,…) phát triển trên thị trường và lớn dần, trở thành thương hiệu.
Theo tác giả đề tài, thương hiệu thực chất vẫn chỉ là nhãn hiệu nhưng được kết hợp cùng một vài yếu tố và xuất hiện, sử dụng thường xuyên trên thị trường. Phan Thị Thanh Xuân (2009), “Nghiên cứu đặc thù và lộ trình xây dựng thương hiệu đối với sản phẩm Ngành Da – Giầy nhằm giúp các doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất mà mở rộng thị trường”. Đề tài cấp bộ, Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam, Bộ Công Thương, mã số 149.09/RD/HD- 5 c KHCN. Đề tài khắc họa thương hiệu là một phạm trù dùng phổ biến trong marketing, bao gồm nhiều yếu tố tác động đến khách hàng.
Tuy nhiên, đề tài chưa hệ thống hóa được các yếu tố cấu thành thương hiệu và mới chỉ thấy được một số hoạt động hời hợt của công tác phát triển thương hiệu. Các giải pháp của nghiên cứu này giải quyết những vấn đề cụ thể của ngành Da – Giầy Việt Nam nhưng cũng có thể sử dụng làm căn cứ xây dựng các giải pháp trong công tác xây dựng định vị thương hiệu. Nguyễn Quốc Thịnh & Nguyễn Thành Trung (2009), “Thương hiệu với nhà quản lý”, nhà xuất bản Lao động – Xã hội. Khái niệm thương hiệu trong đề tài này được tiếp cận từ góc độ của doanh nghiệp, của sản phẩm.
Thương hiệu là một tập hợp các yếu tố tác động vào khách hàng. Cuốn sách giới thiệu các yếu tố của thương hiệu và đề xuất các hoạt động nhằm xây dựng và quản trị thương hiệu hiệu quả. Nội dung còn cung cấp cơ sở lý luận phong phú định hướng cho nghiên cứu và ứng dụng phát triển định vị thương hiệu trong doanh nghiệp theo thời gian và tiến trình xây dựng thương hiệu. Lê Thị Kim Tuyền (2010), “Xây dựng thương hiệu bền vững cho ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả mô tả sự khác nhau giữa nhãn hiệu và thương hiệu nhưng chưa nêu rõ bản chất của thương hiệu. Luận án đề cập đến thuyết Âm – Dương trong thiết kế logo, đưa ra khái niệm “Triết gia thương hiệu”, đề cập nhiều đến giá trị thương hiệu và tập trung phân tích các yếu tố của một thương hiệu mạnh. Nghiên cứu chỉ ra khái niệm thương hiệu ngân hàng nhưng không phân tích được những yếu tố đặc trưng của ngành ngân hàng, khiến các hoạt động thương hiệu triển khai không thực sự khả thi. Qua nội dung của luận án, các công trình nghiên cứu cần lưu ý: định vị thương hiệu cần phải được hoạch định trên cơ sở đặc trưng của đối tượng.
6 c Lê Thị Hoài Dung (2010), “Xây dựng và quản lý thương hiệu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Luận án phân tích thương hiệu bao gồm hai phần: bên trong và bên ngoài. Ngoài ra, quy trình xây dựng và quản lý thương hiệu được xác định bao gồm bốn bước: Xây dựng chiến lược thương hiệu, Xây dựng các yếu tố bên ngoài của thương hiệu, Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và tên miền internet và Các hoạt động Marketing - Mix. Luận án đề xuất tuyên ngôn thương hiệu cho thương hiệu dệt may Việt Nam "Chất lượng giữ nguyên, giá rẻ hơn".
Luận án có quan điểm khác biệt về cách thức cấu phần các yếu tố của thương hiệu và đề xuất những hoạt động khác biệt trong quy trình xây dựng và quản lý thương hiệu. Cấn Anh Tuấn (2011), “Xây dựng thương hiệu mạnh cho các doanh nghiệp Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Thương mại. Luận án không đề cập nhiều đến khải niệm, lý luận thương hiệu mà tập trung vào độ mạnh của thương hiệu. Khái niệm thương hiệu mạnh không được nhiều công trình nghiên cứu đề cập và chưa có tiêu chí thống nhất đánh giá.
Tuy nhiên, luận án gợi ý mục tiêu phát triển thương hiệu mạnh cho việc định vị thương hiệu. Tóm lại, những bài viết và công trình nghiên cứu trên, về cơ bản đã hệ thống hóa tương đối toàn diện cơ sở lý luận về thương hiệu, xây dựng thương hiệu, định vị thương hiệu, phát triển thương hiệu và quản trị thương hiệu. Đặc biệt, các tác giả đều chỉ ra vai trò quan trọng của thương hiệu và vấn đề nhận thức đối với thương hiệu. Bởi vậy, bằng những kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác bản thân, cùng mong muốn phát triển doanh nghiệp, việc lựa chọn đề tài “Định vị thương hiệu của Công ty Cổ phần Thực phẩm Hữu Nghị” là hoàn toàn hợp lý.2 Các mô hình nghiên cứu Mô hình đo lƣờng giá trị thƣơng hiệu của Aaker (1991) Aaker (1991) đã chỉ ra các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu, bao gồm: độ trung thành thương hiệu, độ nhận diện thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính liên tưởng thương hiệu (ví dụ như tên chỉ dẫn địa lý, một nhân vật nổi tiếng gắn liền với thương hiệu đó, nhãn hiệu được chứng nhận), và các giá trị khác như: kênh phân phối… Hình 1.1: Mô hình đo lƣờng giá trị thƣơng hiệu của Aaker (1991) Nguồn: Aaker (1991) Mô hình đo lƣờng giá trị thƣơng hiệu của Lassar & Ctg (1995) Lassar & Ctg (1995) đề ra các thành phần của giá trị thương hiệu như sau: Chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận, hình ảnh thương hiệu, sự tin tưởng với thương hiệu, cảm nghĩ của người tiêu dùng với thương hiệu và ấn tượng đối với thương hiệu.2: Mô hình đo lƣờng giá trị thƣơng hiệu theo Lassar & Ctg (1995) Nguồn: Lassar & Ctg (1995) Mô hình giá trị thƣơng hiệu của Keller (1993, 1998) Theo Keller (1993, 1998), kiến thức của người tiêu dùng về một thương hiệu định hình giá trị thương hiệu.
Kiến thức của người tiêu dùng bao gồm: Độ nhận diện thương hiệu (Brand Awareness), sự ấn tượng về thương hiệu (Brand Image).3: Mô hình giá trị thƣơng hiệu theo Keller (1993,1998) Nguồn: Keller (1993,1998) 9 c Mô hình hành động hợp lý Theo Mô hình hành động hợp lý –Theory of Reasoned Action- TRA của Fishbein, M. & Ajzen (1975), xu hướng tiêu dùng được xây dựng dựa theo 2 yếu tố cơ bản là thái độ đối với việc thực hiện hành vi của người tiêu dùng và một số chuẩn mực chủ quan của người tiêu dùng. Cụ thể, chuẩn mực chủ quan có thể được đánh giá bởi các yếu tố như: Động cơ mua sắm của người tiêu dùng bị ảnh hưởng theo ý kiến của người liên quan. Thái độ từ những người liên quan càng mạnh và mối quan hệ với những người liên quan ấy càng khăng khít thì càng ảnh hưởng tới xu hướng mua của người tiêu dùng.4: Mô hình hành động hợp lý (Fishbein, M.
& Ajzen 1975) Nguồn: Tác giả tổng hợp Mô hình nghiên cứu về Giá trị thƣơng hiệu của PGS.