ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Công nghiệp hóa học cũng không nằm ngoài xu thế đó. Một trong những lĩnh vực hóa học được phát triển mạnh là nghiên cứu các hợp chất mới, đáng chú ý hiện nay là các hợp chất chống cháy được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Hexabromocyclododecan (HBCD) là chất chống cháy chứa brom có tác dụng ức chế quá trình cháy và làm giảm tính dễ cháy cho sản phẩm.
HBCD được ứng dụng nhiều trong sản xuất xốp polystyren ép đùn và giãn nở. Các vật liệu này thường được sử dụng trong xây dựng cũng như chế tạo các vật liệu xốp phục vụ cho các lĩnh vực khác. Khi được thải hoặc thôi nhiễm vào môi trường, HBCD có thể được cơ thể hấp thu trực tiếp từ bụi, tích lũy vào các loại thực phẩm và được hấp thu qua thức ăn. Thủy sản là một loại thức ăn chứa hàm lượng HBCD cao.
Lượng hấp thu HBCD trong thực phẩm có thể lên tới 200 - 250 ng/ngày đối với người trưởng thành. HBCD là một chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), đã được thêm vào phụ lục A công ước Stockholm vào năm 2013 [1]. Dù chưa có nhiều thông tin về việc HBCD ảnh hưởng tới sức khỏe con người nhưng cũng đã có những báo cáo ảnh hưởng của chất này trên chuột, thỏ ở cả liều cấp tính và mãn tính. HBCD có độc tính cấp rất thấp [2-5].
Các nghiên cứu in vivo trên thỏ và chuột cho thấy độc tính khi phơi nhiễm dài hạn qua đường ăn uống chủ yếu tác động lên gan và tuyến giáp [6-8]. HBCD cũng có ảnh hưởng đến một số quy trình chuyển hóa tại gan [9]. Ngoài ra, các nghiên cứu in vitro cho thấy HBCD có gây độc trên tế bào người [10]. HBCD được các sinh vật hấp thu và giữ lại trong cơ thể do đặc điểm kém phân cực.
Nó hòa tan dễ dàng vào các mô, cơ quan chứa nhiều chất béo của động vật. Những sinh vật này được sử dụng làm thực phẩm cho con người, dẫn đến con đường phơi nhiễm HBCD thông qua thực phẩm. Các loại thủy sản thường có hàm lượng HBCD cao hơn do HBCD đi vào môi trường từ vật liệu thải qua nhiều giai đoạn, 1 cuối cùng sẽ tập trung chủ yếu trong nước. Các nghiên cứu trên thế giới cũng tập trung chủ yếu vào xác định hàm lượng HBCD trong các mẫu thủy hải sản.
Tuy nhiên, các phương pháp xác định HBCD trong thực phẩm được nghiên cứu trên thế giới thường có quy trình xử lý mẫu phức tạp, kéo dài, cũng như sử dụng nhiều loại dung môi hữu cơ có hại cho sức khỏe và môi trường [11]. Việc phát triển một phương pháp nhanh, đơn giản, phù hợp với nhiều phòng thí nghiệm giúp việc xác định HBCD trong thực phẩm được phổ biến rộng rãi, góp phần đánh giá nguy cơ phơi nhiễm đối với chất này. Tại Việt Nam, hiện chưa có công bố chính thức về xác định hàm lượng HBCD trong thực phẩm. Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, chưa có quy định về dư lượng HBCD tối đa trong thực phẩm.
Tuy nhiên, HBCD là một hợp chất hữu cơ bền trong môi trường, có nguy cơ phơi nhiễm cao cho con người và có thể gây những tác dụng có hại đối với sức khỏe. Chính vì vậy, việc xây dựng phương pháp xác định HBCD sẽ giúp đánh giá sớm mức độ phơi nhiễm với hợp chất này trên người, tạo cơ sở để tiến hành các nghiên cứu đánh giá nguy cơ của các chất HBCD đối với sức khỏe, nhằm ban hành các quy định về hàm lượng tối đa trong thực phẩm, trước tiên là đối với những loại thực phẩm có nguy cơ cao như thủy sản và các sản phẩm thủy sản. Vì vậy, đề tài “Xây dựng phương pháp định lượng một số hexabromocyclododecan (HBCD) trong thủy sản bằng LC-MS/MS” được thực hiện với 2 mục tiêu chính: 1. Xây dựng và thẩm định phương pháp xác định HBCD trong thủy sản và sản phẩm thủy sản bằng LC-MS/MS.
Xác định hàm lượng HBCD trong một số loại thủy sản và sản phẩm từ thủy sản bằng phương pháp đã xây dựng. Tổng quan về HBCD 1. Cấu tạo và tính chất của HBCD HBCD gồm một vòng cyclododecan được thế 6 nguyên tử brom ở các vị trí 1, 2, 5, 6, 9, 10. Hỗn hợp các HBCD thu được thông qua quá trình brom hóa các đồng phân cyclododeca-1,5,9-triene.
Sáu trung tâm lập thể ở các vị trí 1, 2, 5, 6, 9 và 10 được hình thành, về mặt lý thuyết dẫn đến 16 đồng phân lập thể của 1,2,5,6,9,10- hexabromocyclododecan: sáu cặp đồng phân đối quang và bốn dạng meso [12]. Công thức thương mại kỹ thuật của hợp chất này bao gồm ba dạng đồng phân: γ- HBCD (75 - 89%), α-HBCD (10 - 13%) và β-HBCD (1 - 12%). Tuy nhiên, có những nghiên cứu chứng minh thêm hai đồng phân lập thể nữa (δ-HBCD và ε-HBCD) nhưng ở nồng độ thấp hơn rất nhiều [12, 13]. Vì vậy các dạng đồng phân phổ biến nhất được tìm thấy trong môi trường là α-, β- và γ-HBCD.
Công thức cấu tạo của 3 dạng đồng phân thường gặp của HBCD được thể hiện trong Hình 1. Ba đồng phân thường gặp của HBCD Các nguyên tử brom trong phân tử HBCD có thể được sắp xếp lại ở nhiệt độ trên 190°C, tạo ra một hỗn hợp cụ thể của các đồng phân lập thể (78% α-HBCD, 13% β-HBCD và 9% γ-HBCD) [14, 15]. Các đồng phân HBCD cũng có thể chuyển dạng lẫn nhau ở những điều kiện nhất định ở nhiệt độ cao (chủ yếu từ các dạng β- và γ-HBCD sang α-HBCD) [16, 17]. Các điều kiện như vậy có thể xảy ra trong quá trình sản xuất hoặc xử lý các vật liệu, do đó hàm lượng tương đối của các đồng phân 3 lập thể HBCD trong các vật liệu khác nhau có thể khác với hàm lượng tương đối của các hỗn hợp HBCD kỹ thuật.
Một số tính chất vật lý - hóa lý của HBCD: - Công thức phân tử: C12H18Br6 - Khối lượng phân tử: 641,7 - Khối lượng riêng: 2,24 g/cm3 đến 2,38 g/cm3 - Nhiệt độ nóng chảy: 185-195°C - logP: 5,6 [18] - Độ tan: tan tốt trong các dung môi không phân cực, tan trong các dung môi thông thường như aceton, acetonitril; kém tan trong nước. - Bền trong điều kiện thông thường, bền với nhiệt [19]. Sự khác biệt trong cấu trúc của các đồng phân lập thể HBCD gây ra sự khác biệt về độ phân cực cũng như độ hòa tan trong nước của các đồng phân. Độ hòa tan của α-, β- và γ-HBCD trong nước lần lượt là 48,8; 14,7 và 2,1 µg/L [20].
Những đặc tính khác nhau này có thể dẫn đến tốc độ hấp thu và trao đổi chất sinh học khác nhau, tạo ra những khác biệt trong mức độ phơi nhiễm và ảnh hưởng của các đồng phân với môi trường và sinh vật [21, 22]. Chính vì vậy, để có thể đánh giá cụ thể và chính xác những tác động của HBCD lên môi trường và sinh vật, cần xác định được tính chất cũng như hàm lượng của từng đồng phân. Ứng dụng của HBCD HBCD đã có mặt trên thị trường thế giới từ cuối những năm 1960 và được sản xuất để sử dụng trong xốp polystyren ép đùn (XPS) và xốp polystyren giãn nở (EPS). Trước đây, nó chủ yếu được sản xuất ở Trung Quốc, Liên minh Châu Âu (EU) và Hoa Kỳ.
Tổng sản lượng HBCD ước tính vào khoảng 31.000 tấn vào năm 2011, trong đó khoảng 13.000 tấn được sản xuất tại các nước EU và Hoa Kỳ, và 18.000 tấn tại Trung Quốc [23]. 4 HBCD đã được sử dụng như một chất phụ gia chống cháy nhằm giảm khả năng bắt lửa, chủ yếu là của các loại polyme và vật liệu dễ cháy trong các công trình xây dựng, phương tiện giao thông, hoặc thiết bị điện và điện tử. Trên thế giới, ứng dụng chính của HBCD là trong sản xuất vật liệu cách nhiệt bằng xốp polystyren giãn nở (EPS) và polystyren ép đùn (XPS). Theo báo cáo của UNEP, ước tính có hơn 90% lượng HBCD được sử dụng như một chất chống cháy trong các loại xốp EPS và XPS được dùng làm vật liệu cách nhiệt trong các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp.
Tại Liên minh châu Âu, HBCD còn được sử dụng trong polystyren chịu va đập cao và trong dệt may, ước tính chiếm khoảng 2% sản lượng tiêu thụ. Báo cáo cũng chỉ ra hàm lượng HBCD trong vật liệu phụ thuộc vào loại polyme được sử dụng cùng với các yêu cầu về an toàn cháy nổ mà sản phẩm cần đáp ứng, chính vì vậy hàm lượng HBCD trong các vật liệu là rất khác nhau. Hàm lượng HBCD trong một số ứng dụng được thể hiện trong bảng 1. Hàm lượng HBCD trong một số loại vật liệu chống cháy Vật liệu chống cháy Hàm lượng HBCD (mg/kg) Xốp EPS 5000 - 10000 Xốp XPS 8000 - 25000 Vải dệt 22000 – 43000 Polystyren chịu va đập cao 10000 - 70000 Có nhiều cách sử dụng khác nhau cho vật liệu EPS và XPS trong lĩnh vực xây dựng, nhưng nhìn chung đều với mục đích tạo các kiến trúc tường, sàn hay trần nhà cách nhiệt hoặc chống cháy [24].
Tuổi thọ của các tòa nhà và các thành phần xốp polystyren của chúng có thể là 25-100 năm. Vì vật liệu chống cháy thay thế cho XPS/EPS chỉ mới có sẵn dần dần vào năm 2014, nên tất cả xốp polystyren chống cháy trước năm 2014 có thể được coi là có chứa HBCD. Điều đó có nghĩa là, các tòa nhà và công trình xây dựng trước năm 2014 có sử dụng EPS và XPS đều có chứa 5 HBCD. Khi phá dỡ hoặc sửa chữa những công trình này, HBCD có thể nhiễm vào môi trường [25].
HBCD cũng được sử dụng trong sản xuất vải nguyên liệu phục vụ cho các lĩnh vực khác. Trong sản xuất phương tiện giao thông, người ta cần sử dụng các vật liệu chống cháy như ghế ngồi, sàn, vải lót trần xe và các đồ nội thất khác bên trong xe hoặc tàu. Trong sản xuất một số đồ gia dụng, HBCD cũng được phun lên lớp vải nguyên liệu để hạn chế khả năng bắt cháy của sản phẩm [26]. Con đường phơi nhiễm HBCD HBCD trong các vật liệu nhựa có thể đi vào môi trường ở dạng các hạt bụi.
Việc phá dỡ các công trình xây dựng, thải các vật liệu nhựa xốp chứa HBCD vào môi trường cũng làm tăng tốc quá trình HBCD đi vào môi trường. HBCD phân bố trong nước, không khí, lắng xuống tầng nước đáy, có thể được hấp thu bởi các sinh vật, trong đó có con người. Trung bình một người hấp thu 20 mg bụi/ngày sẽ có 3,2 -145,5 ng HBCD [27, 28].