PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Định kiến là một trong những hiện tượng tâm lý xã hội đặc trưng của nhóm, phản ánh đời sống tâm lý phức tạp trong mối quan hệ ứng xử và giao tiếp của con người. Mặc dù xã hội ngày càng phát triển và văn minh nhưng những định kiến về giới tính, dân tộc…vẫn còn tồn tại. Ở bất kỳ đâu, trong bất kỳ mối tương tác nào ta cũng có thể bắt gặp định kiến.
Định kiến giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác.điều đó đã taọ ra nhiều áp lực, đè nặng trên vai những người bị định kiến. Từ trước đến nay đã có rất nhiều các tác giả nghiên cứu về định kiến nhưFischer, Godefroid, J.Chaplin; Vũ Dũng, Trần Thị Minh Đức. Định kiến về dân tộc thiểu số không còn là vấn đề mới, nhưng nó chưa bao giờ là cũ vì đâu đó trong mỗi chúng vẫn luôn có một thái độ định kiến đối với cá nhân, với nhóm cộng đồng nào đó. Việc hình thành định kiến giữa các tộc người đã làm cản trở sự đoàn kết, gắn bó của các nhóm người và kìm hãm sự phát triển của một quốc gia hay cả cộng đồng người.
Ở Việt Nam, mặc dù xã hội đang ngày càng phát triển, ngày càng văn minh và nhà nước chúng ta cũng đã đưa ra nhiều chủ trương nhằm xóa bỏ sự định kiến giữa các dân tộc. Nhưng trong thực tế chúng ta thấy rằng, việc xóa bỏ được nó là điều không dễ dàng. Vấn đề này được thể hiện trong một số nghiên cứu như: “Thiểu số cần tiến kịp đa số - Định kiến trong quan hệ tộc người ở Việt Nam” của Phạm Quỳnh Phương và các cộng sự (2013), “Định kiến tộc người: Vài nét khái quát và một số đề xuất cho các bước nghiên cứu tiếp theo” của tác giả Nguyễn Công Thảo(2010). Với bất cứ một quốc gia nào, sinh viên là tầng lớp tri thức trẻ nắm giữ tương lai của quốc gia đó, họ cần được rèn luyện, học tập và phát triển một cách toàn diện trong một môi trường lành mạnh, công bằng và văn minh.
Đặc biệt, đối với sinh viên dân tộc thiểu số, đại học là môi trư ờng có nhiều khó khăn và áp lực và một vấn đề đặt ra là sinh viên tộc người thiểu số khi sinh sống, học tập tại một số trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội có bị định kiến không? Vấn đề định kiến đối với sinh viên các tộc người thiểu số sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hòa nhập và phát triển của họ, phá vỡ sự đoàn kết của xã hội; điều quan trọng hơn nữa nó sẽ 1 z cản trở sự cống hiến và đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về định kiến tộc người như đã nêu trên, tuy nhiên chưa có công bố nào cho chúng ta thấy rằng liệu khi về theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội thì sinh viên các tộc người thiểu số có bị định kiến hay không? Và nếu có thì mức độ và biểu hiện của nó như thế nào? Để làm rõ những vấn đề đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học ở một số trường Đại học tại Hà Nội” với mong muốn tìm hiểu thực trang và đưa ra các kiến nghị nhằm giải quyết vấn đề định kiến đối với sinh viên các tộc người thiểu số đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực tiễn, luận văn tập trung đánh giá thực trạng định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới định kiến từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sự định kiến của giảng viên và sinh viên đối với SVDTTS.
Nhiệm vụ nghiên cứu 2. Nghiên cứu lí luận - Xác định cơ sở lý luận về định kiến, định kiến đối với người dân tộc thiểu số, định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số. Nghiên cứu thực tiễn - Tìm hiểu mức độ và biểu hiện của định kiến của giảng viên và sinh viên đối với các sinh viên dân tộc thiểu số. - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số.
- Đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế định kiến đối với sinh viên dân tộc thiểu số. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu bao gồm 238 sinh viên, 64 giảng viên của 3 trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ phạm vi của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề định kiến đối với sinh viên các tộc người thiểu số ở các khía cạnh sau: - Mức độ định kiến của giảng viên và sinh viên đối với SVDTTS thể hiện ở 3 khía cạnh: nhận thức – cảm xúc – hành vi được phản ánh thông qua các hoạt động chínhlà học tập, giao tiếp và các hoạt động đoàn thể. - Mức độ sẵn sàng hỗ trợ sinh viên dân tộc thiểu số của giảng viên và sinh viên, các chủ trương chính sách của trường và khoadành cho SVDTTS. - Các yếu tố ảnh hưởng tới định kiến của giảng viên và sinh viên dành cho SVDTTS. Phƣơng pháp nghiên cứu Định kiến tộc người là một vấn đề nhạy cảm và đa diện.
Chính vì thế, việc kết hợp các phương pháp định lượng và định tính là một việc làm cần thiết. Trong nghiên cứu này, một số phương pháo sau được áp dụng để xác định mức độ định kiến của người Kinh đối với các tộc người thiểu số: 4. Nghiên cứu tài liệu, văn bản Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học đi trước và các tài liệu có liên quan đến vấn đề định kiến nói chung và định kiến tộc người nói riêng để từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng cơ sở lý luận của nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiều định kiến thông qua nguồn văn học dân gian: ca dao, tục ngữ, câu vè, truyện ngụ ngôn của người Kinh đề cập đến các tộc người thiểu số được coi là nguồn tư liệu quan trọng để phân tích nhằm đưa ra một cái nhìn rộng hơn, mang chiều dài lịch sử về vấn đề nghiên cứu.
Điều tra bằng bảng hỏi Điều tra bảng hỏi đối với sinh viên và giảng viên là phương pháp chính nhằm xác định vấn đề định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số. Tác giả xây dựng 2 bảng hỏi dành cho sinh viên và giảng viên. Phỏng vấn sâu Đây là phương pháp sử dụng song song với phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi. Phỏng vấn sâu được sử dụng dưới 2 hình thức: Thứ nhất, phỏng vấn sâu với giảng viên và các chuyên gia về vấn đề định kiến của giảng viên, sinh viên đối với sinh viên dân tộc theo học tại một số trường Đại học tại Hà Nội; Thứ hai, phỏng vấn các sinh viên dân tộc về ảnh hưởng và hậu quả của định kiến đối với cá nhân sinh viên dân tộc thiểu số.
Giả thuyết khoa học Ở giảng viên và sinh viên còn tồn tại một số định kiến đối với sinh viên dân tộc thiểu số biểu hiện thông qua ba khía cạnh nhận thức, cảm xúc và hành vi. Mức độ định kiến của giảng viên và sinh viên đối với sinh viên dân tộc thiểu số là tương đối thấp. Các nhóm sinh viên học năm nhất đến năm tư, có mức độ định kiến khác nhau đối với SVDTTS. Các nhóm sinh viên có ít bạn là người dân tộc thiểu số có mức độ định kiến cao hơn so với nhóm có nhiều bạn là người DTTS.
Mức độ định kiến dành cho SVDTTS có mối tương quan với mức độ sẵn sàng thực hiện hành vi trợ giúp sinh viên DTTS của giảng viên và sinh viên đại học. 4 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN ĐỐI VỚI SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan tới đề tài định kiến đối với dân tộc thiểu số 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Đề tài định kiến đối với người dân tộc thiểu số đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới.
Ở châu Âu và Mỹ có các nghiên cứu tiêu biểu như sau: Trong những năm 1960-1971, Edheim (1960, 1971) đã tiến hành nghiên cứu những dấu hiệu văn hóa phân biệt người Sami như một nhóm thiểu số, tách biệt với cộng đồng người Na Uy chiếm đa số. Bất chấp có sự tiếp xúc từ lâu đời và có hoạt động kinh tế tương đồng, người Sami vẫn bị coi là nhóm thiểu số, có địa vị thấp hơn so với người Na Uy. Nguyên nhân của sự phân rẽ này, theo Edhiem là sự khác biệt về ngôn ngữ, và ý thức về tổ tiên của người Sami. Bertrand và Mullainathan (2004) đã tiến hành một khảo sát quy mô lớn về những phân biệt đối xử đối với những nhóm tộc người thiểu số trong thị trường lao động ở một số quốc gia phát triển trong đó có Mĩ.
Nghiên cứu này, tuy nhiên mới dừng lại ở việc chỉ ra những bất bình đằng mà các cộng đồng thiểu số này phải hứng chịu từ các nhà tuyển dụng lao động thuộc về cộng đồng đa số dưới phương diện cơ hội được bình đẳng tuyển dụng. Nguyên nhân của sự hình thành những định kiến này này là tộc danh và tôn giáo. Tuy nhiên, tính đa chiều của sự định kiến này cũng chưa được làm rõ khi vấn đề định kiến chỉ được đặt trong mối quan hệ giữa 2 nhóm nhỏ trong 1 cộng đồng lớn: nhà tuyển dụng lao động (một nhóm nhỏ, không đại diện cho cả cộng đồng mà họ thuộc về) và nhóm nộp đơn xin tuyển dụng (không đại diện cho cả nhóm cộng đồng các dân tộc thiểu số). Việc biện giải vấn đề định kiến ở đây dưới góc độ kinh tế, mặt khác cũng mới chỉ làm rõ một dáng nét của vấn đề đa diện này.