mở đầu của sự đảo lộn đặt nền tảng cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã diễn ra trong ba mươi năm cuối thế kỷ XV và mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XVI. Nhưng phải đến thế kỷ XVIII, khi đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp, thì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới đứng vững trên cơ sở của bản thân nó, mới hoàn * Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 11 toàn chiến thắng và thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Gần ba thế kỷ trên, chính là thời kỳ quá độ từ phương thức sản xuất phong kiến lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nước Anh.
Nhưng chính sự phát triển cao của chủ nghĩa tư bản lại tạo ra những tiền đề để phủ định bản thân nó và một phương thức sản xuất mới sẽ ra đời mà C. Lênin gọi là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước”, sau khi trích dẫn câu trong “Phê phán cương lĩnh Gôta” của C. Mác: “Nhưng những thiếu sót này không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, là xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa sau những cơn đau đẻ kéo dài”, V.
Lênin đã ghi chú bên lề: “Vậy là: I “những cơn đau đẻ kéo dài”. II “giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”. III “giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa””1. Hàm ý là từ xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển cao tiến lên chủ nghĩa cộng sản gồm thời kỳ quá độ (cơn đau đẻ kéo dài), giai đoạn thấp (mà ngày nay gọi là chủ nghĩa xã hội) và giai đoạn cao.
Nếu cách mạng vô sản thành công ở một nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển cao, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước đã tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, dựa trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, thì chính quyền cách mạng chỉ cần kế thừa những thành tựu đó để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ. Theo quá trình lịch sử tự nhiên, như nhận định của V. Lênin: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá 1. Lênin: Toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy. Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”1. Song tính quy luật chung không loại trừ những hình thức phát triển đặc thù của một số nước.
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt mà cách mạng vô sản lại giành được thắng lợi ở một nước nông nghiệp lạc hậu thì giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ đứng trước hai khả năng: hoặc là cho rằng lực lượng kinh tế không tương xứng với lực lượng chính trị thì không nên giành chính quyền; hoặc là giai cấp công nhân phải lôi cuốn tất cả nhân dân lao động nhằm củng cố chính quyền và học tập chủ nghĩa tư bản để tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Nhưng, như nhận định của V. Lênin: “Không nghi ngờ gì nữa, ở một nước trong đó những người sản xuất - tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển trong đó công nhân làm thuê trong công nghiệp và nông nghiệp chiếm tuyệt đại đa số dân cư”2. Một trong những biện pháp quá độ là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, không những gồm những thành phần thuộc kết cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa và mầm mống của chủ nghĩa xã hội mà cả những thành phần thuộc kết cấu kinh tế 1.
Lênin: Toàn tập, Sđd, t. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 13 tiền tư bản chủ nghĩa, như kinh tế tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa nhỏ. Không những thế “Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta, lại chia ra thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa.
Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó”1. Tùy từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi bước quá độ nhỏ đó (mà ở nước ta gọi là chặng đường), thành phần kinh tế này hay thành phần kinh tế khác sẽ chiếm ưu thế. Mấy vấn đề về phương pháp phân định thành phần kinh tế Có ý kiến cho rằng, không nên phân định thành phần kinh tế, không nên chia tách rạch ròi kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước. Bởi vì: - Việc phân định đó không thể thực hiện được, khó xác định ranh giới rõ ràng, không phải là đại lượng đo đếm được nên không thể xếp mỗi doanh nghiệp vào một thành phần kinh tế nhất định.
- Việc phân định thành phần kinh tế sẽ dẫn đến phân biệt đối xử, khiến các nhà kinh doanh tư nhân lo lắng, e ngại đầu tư. Cần phải phân định thành phần kinh tế vì trong thời kỳ quá độ từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội trình độ phát triển của lực lượng sản xuất rất khác nhau giữa các ngành, giữa các vùng và ngay cả giữa các đơn vị kinh 1. Lênin: Toàn tập, Sđd, 2006, t. 14 tế trong cùng một ngành hay cùng một vùng.
Tương ứng với các trình độ lực lượng sản xuất khác nhau ấy là những quan hệ sản xuất khác nhau. Ví dụ, mặc dù ở nước Nga Xôviết chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới một mức nhất định, nhưng khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội kinh tế tiểu nông vẫn chiếm ưu thế, nên V. Lênin đã nhận xét: Nhìn kỹ vào nền kinh tế “Ít nhất là chúng ta thấy có năm chế độ kinh tế khác nhau, hay là năm kết cấu, năm hệ thống kinh tế khác nhau”1. Bởi vậy, phải phân định thành phần kinh tế mới hiểu được những đặc trưng cơ bản và xu hướng vận động của từng kết cấu kinh tế ấy để có chính sách phù hợp nhằm phát huy được tiềm lực của chúng vào phát triển kinh tế - xã hội.
Không thể lấy cớ khó xác định ranh giới để phân đôi việc phân định thành phần kinh tế. Trong đời sống hiện thực các thành phần kinh tế thường đan xen nhau, phải dựa vào những đặc trưng cơ bản nhất của mỗi đơn vị kinh tế mà xếp nó vào thành phần kinh tế này hoặc thành phần kinh tế khác để tìm ra bản chất và quy luật vận động của mỗi thành phần kinh tế làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách kinh tế. Chúng ta hãy so sánh với việc phân loại thực vật theo nhóm dựa trên sự giống nhau về lá, về hoa, về rễ, về thân cây. Trong thực tiễn không ít loài thực vật có lá giống nhóm này, nhưng rễ lại giống nhóm kia, và thân cây lại giống nhóm thứ ba, v.
Vì thế, chỉ có thể lựa chọn đặc trưng nổi trội nhất mà xếp nhóm chứ không thể xác định ranh giới tuyệt đối được, miễn sao cách sắp xếp ấy giúp chúng ta hiểu được quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu để vận dụng vào thực tiễn. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 15 Có thể minh họa bằng sự so sánh kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa nhỏ với kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa lớn. Tuy giống nhau là cùng thuộc sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhưng kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa nhỏ là sản xuất hàng hóa giản đơn, vận động theo công thức hàng - tiền - hàng, dựa trên cơ sở sở hữu nhỏ và sử dụng lao động của bản thân người sản xuất, mục tiêu chủ yếu vẫn hướng vào giá trị sử dụng; còn kinh tế tư nhân sản xuất hàng hóa lớn là sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, vận động theo công thức tiền - hàng - tiền, dựa trên cơ sở sở hữu lớn và sử dụng lao động làm thuê nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.
Mỗi loại kinh tế tư nhân trên có xu hướng vận động riêng, đòi hỏi có chính sách phù hợp, nên cần phân định thành hai thành phần kinh tế tách biệt. Cũng không phải việc phân định thành phần kinh tế sẽ dẫn đến chỗ phân biệt đối xử khiến các nhà kinh doanh tư nhân lo lắng, e ngại đầu tư. Chính vì không thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, không phân định các thành phần kinh tế, nên chúng ta đã không nhận rõ vai trò của kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ đó đã nảy sinh tâm lý lo sợ sự phát triển tự phát lên chủ nghĩa tư bản, cản trở định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trước khi đổi mới đã nóng vội xóa bỏ kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân để xác lập ngay chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể.
Đó là một trong những nguyên nhân kìm hãm lực lượng sản xuất, dẫn đến trì trệ và lâm vào khủng hoảng kinh tế cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Lại có một số người băn khoăn: không nên gọi là thành phần kinh tế mà nên gọi là khu vực kinh tế. Lênin đã dùng nhiều từ như thành phần, kết cấu, mảnh, bộ phận, chế độ kinh tế, v. Chủ tịch Hồ Chí Minh 16 cũng có khi dùng “thành phần kinh tế”1, có khi lại dùng từ “loại kinh tế”2.
Vấn đề quan trọng hàng đầu là nêu ra khái niệm như thế nào để khái niệm đó phản ánh đúng các kết cấu kinh tế tồn tại khách quan trong thực tiễn để có chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và lành mạnh; còn việc gọi là thành phần, khu vực, bộ phận, hay loại, v. Nhưng trong khoa học cũng như trong cuộc sống nên dùng những từ ngữ đã quen thuộc để dễ chuyển thông tin đến mọi người hơn.