ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 65,6% dân số sinh sống và làm việc liên quan đến chăn nuôi, trồng trọt. Cuộc sống và sức khỏe của người lao động gắn bó với môi trường tự nhiên và các điều kiện lao động. Trong lao động sản xuất, người dân chịu tác động của phơi nhiễm với các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất, chuyên canh. Sản xuất nông nghiệp của nước ta đang phát triển với tốc độ cao theo hướng công nghiệp, hàng hoá, năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Tuy nhiên những vấn đề về môi trường, lao động có ảnh hưởng tới sức khỏe, phát triển bền vững và những phát sinh nội tại trong quá trình sản xuất nông nghiệp đang đòi hỏi chúng ta cần quan tâm giải quyết. Quá trình canh tác nông nghiệp nói chung, cây vải nói riêng luôn tồn tại những ảnh hưởng đối với sức khỏe và môi trường sinh thái. Người lao động chuyên canh vải không những phải lao động thường xuyên ở ngoài trời, tiếp xúc với các yếu tố vật lý mà còn phải tiếp xúc thường xuyên với nhiều hóa chất độc hại do chính họ đưa vào môi trường bởi nhu cầu, mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế. Các sản phẩm như phân bón, HCBVTV và nhiều loại hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh trưởng đều có thể có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động [112].
Phần lớn những hợp chất này rất bền vững, tích lũy lâu dài trong mô mỡ, lipoprotein theo thời gian có thể gây các bệnh như ung thư, bệnh về mũi họng… [44]. Những bất cập, ảnh hưởng này đang là vấn đề khó giải quyết đối với các nhà khoa học cũng như cả cộng đồng đặc biệt là sự ảnh hưởng xấu tới môi trường sống và sức khoẻ của con người [28], [30], [102]. Điều này đã được nhiều nhà khoa học ghi nhận, đặc biệt là về tỷ lệ bệnh tật của người nông dân khá cao. Một nghiên cứu của Ratana Sapbamrer và Sakorn Nata (2014) ở Thái Lan cho thấy các biểu hiện sức khỏe thường gặp của người nông dân khi tiếp xúc với HCBVTV là đau tức ngực (19,8%), ho (28%), tê bì (41,2%), đau đầu (30,8%), khô họng (23,6%) [102].
Nghiên cứu của Trần Văn Sinh (2009) trên người chuyên canh vải tại huyện Lục Ngạn, Bắc 2 Giang cho thấy người nông dân chuyên canh vải thường mắc các chứng bệnh như đau đầu 32,89%, viêm mũi họng mạn tính 31,35%, mất ngủ 25,65%, viêm kết mạc mắt 22,14%,. Ở nước ta, các nghiên cứu về điều kiện lao động, sức khỏe của người lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung đã được nhiều nhà khoa học quan tâm song không thường xuyên và có hệ thống, đặc biệt là các nghiên cứu về các giải pháp dự phòng [42]. Các nghiên cứu cũng chủ yếu tập trung ở người canh tác lúa, rau, cà phê, chè. Những nghiên cứu về điều kiện lao động, sức khỏe của người chuyên canh vải còn rất ít [23], [28].
Kết quả của một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy, điều kiện an toàn vệ sinh lao động của người lao động trong sản xuất nông nghiệp chưa tốt, đặc biệt là việc tiếp xúc với các yếu tố nguy hại, không đảm bảo an toàn cũng như không sử dụng hoặc sử dụng không đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động [35], [110]. Một số nghiên cứu trước đây đã đưa ra một số giải pháp can thiệp nhằm tạo điều kiện an toàn vệ sinh lao động và dự phòng bệnh tật ở người nông dân. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu đầy đủ nào được thực hiện trên đối tượng người chuyên canh vải. Vùng chuyên canh vải tại Bắc Giang chiếm diện tích lớn nhất cả nước.
Năm 2015, với tổng diện tích trồng vải toàn tỉnh là trên 31.000 ha, cho sản lượng đạt 195. Trong đó, huyện Lục Ngạn là vùng chuyên canh vải lớn nhất tỉnh với trên 17.000 ha, đạt sản lượng 118. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng điều kiện lao động, sức khỏe, một số yếu tố liên quan và hiệu quả giải pháp can thiệp ở người chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” với các mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng điều kiện lao động, sức khỏe của người chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang năm 2016.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến sức khỏe của người chuyên canh vải. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp chăm sóc sức khỏe người lao động chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm, định nghĩa liên quan An toàn lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động [34].
Vệ sinh lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [34]. Môi trường lao động (working environment): là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên trong và bên ngoài tại nơi sản xuất có ảnh hưởng tới sức khỏe và khả năng lao động, sản xuất. Theo nghĩa rộng: “Môi trường lao động” là tổng hợp tất cả các nhân tố như không khí, đất, nước, ánh sáng, âm thanh, nhà xưởng, máy móc, phương tiện, cảnh quan, các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến chất lượng lao động và cuộc sống của con người cũng như tài nguyên cần thiết cho sinh sống, sản xuất của con người. Môi trường lao động nông nghiệp (LĐNN) được phân loại theo ba lĩnh vực là ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành sơ chế nông phẩm.
Người lao động nông nghiệp có môi trường lao động chủ yếu làm việc ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi các yếu tố khí hậu như nắng, mưa, gió và ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện sống, môi trường lao động độc hại, gánh nặng về thể lực mà chủ yếu là lao động thủ công. Điều kiện lao động: là tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật được thể hiện bằng các công cụ, phương tiện lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, quy trình công nghệ ở trong một không gian nhất định và việc bố trí sắp xếp, tác động qua lại giữa các yếu tố đó với con người, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Điều 4 kiện lao động cùng với sự xuất hiện lao động của con người và được phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật. Điều kiện lao động còn phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên của từng nơi và mối quan hệ của con người trong xã hội [14], [51].
Yếu tố nguy hiểm: là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động [34]. Yếu tố có hại: là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động [34]. Hóa chất bảo vệ thực vật: là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng [16], [32]. Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [6].
Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động [33, 34]. Phương tiện bảo vệ cá nhân: là những dụng cụ, phương tiện, trang thiết bị thiết yếu của mỗi người lao động cần sử dụng trong khi làm việc để cơ thể không bị tác động xấu các yếu tố có hại phát sinh trong môi trường [10]. Điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp 1. Thực trạng điều kiện lao động trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), nông nghiệp là một trong những ngành nguy hiểm nhất trong tất cả các lĩnh vực kinh tế và nhiều lao động nông nghiệp bị tai nạn lao động và bị bệnh liên quan mỗi năm.
5 Vấn đề sử dụng phương tiện BHLĐ trong lao động nông nghiệp cũng rất đáng quan tâm. Kết quả nghiên cứu của của Okoffo E D và cộng sự năm 2016 ở Ghana đã chỉ ra rằng tỷ lệ người nông dân sử dụng phương tiện BHLĐ khá thấp, tỷ lệ sử dụng kính mắt bảo hộ ở người nông dân chỉ chiếm 20,8%, sử dụng khẩu trang là 35,4% [93]. Một nghiên cứu của Adesuyi A.A và cộng sự năm 2018 tại Nigeria cho thấy, chỉ có 11% đối tượng nghiên cứu sử dụng đầy đủ các phương tiện BHLĐ khi làm việc tại nông trại. Có đến 84,6% nông dân không mang khẩu trang khi làm việc; 59,6% nông dân không mặc quần áo bảo hộ, 46,1% nông dân không đeo kính bảo hộ khi làm việc [53].
Nghiên cứu của tác giả Sapbamrer R và cộng sự cho thấy, tỷ lệ người nông dân mặc quần áo dài chiếm từ 66,1% đến 71,1%, đội mũ 47,3%, đeo kính 24,3%, đeo găng tay 40,5%, khẩu trang 43,2% [103]. Một nghiên cứu ở Mỹ chỉ ra rằng, tỷ lệ người nông dân không mặc quần áo dài khi phun HCBVTV chiếm từ 14 đến 37%, không đeo kính chiếm 70%, không đeo găng tay chiếm 60% [79]. Nghiên cứu của tác giả Manyilizu W.B và cộng sự tại Tanzania cho thấy, tỷ lệ người nông dân sử dụng găng tay khi sử dụng HCBVTV chỉ chiếm 8,6%, sử dụng kính chiếm 3,1%, sử dụng mũ chiếm 1,6%, sử dụng khẩu trang chiếm 3,1%, sử dụng mũ chiếm 35,2% [88]. K và cộng sự chỉ ra rằng, có 71% người nông dân sử dụng một hoặc nhiều hơn các phương tiện bảo hộ cá nhân, như có 65% nông dân sử dụng quần áo bảo hộ, 20% sử dụng khẩu trang khi phun HCBVTV, 5% sử dụng găng tay, 15% sử dụng ủng khi phun HCBVTV [95].
Nghiên cứu của tác giả Rakesh P.S và cộng sự cho kết quả, tỷ lệ người nông dân sử dụng găng tay khi phun HCBVTV là 47,9%, sử dụng quần áo bảo hộ là 61,2%, sử dụng khẩu trang là 81,6%, mang ủng là 28,6%. Tỷ lệ sử dụng tất cả các phương tiện phòng hộ cá nhân là 27,6%, không sử dụng bất cứ phương tiện phòng hộ cá nhân nào là 18,4% [97].