Luận văn điều kiện an toàn của các phòng x quang và kiến thức thực hành phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của nhân viên x quang trong các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh quảng ngãi năm 2016

Luận văn đánh giá điều kiện an toàn phòng X-quang và kiến thức phòng bệnh nhiễm xạ của nhân viên tại các cơ sở y tế tỉnh Quảng Ngãi năm 2016.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

186
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Điều kiện an toàn phòng X quang

Nghiên cứu đánh giá điều kiện an toàn phòng X-quang tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2016. Kết quả cho thấy chỉ 38,7% phòng X-quang đạt chuẩn an toàn, trong đó chỉ 3,2% cơ sở tư nhân đáp ứng yêu cầu. Các vấn đề chính bao gồm thiết bị lạc hậu, lỗi kỹ thuật dẫn đến rò rỉ tia X, và thiếu trang bị bảo hộ cá nhân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 85,9% nhân viên không sử dụng thiết bị bảo hộ thường xuyên, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm bức xạ. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện cơ sở hạ tầng và tuân thủ các quy định an toàn bức xạ.

1.1. Thiết bị và cơ sở hạ tầng

Các phòng X-quang tại Quảng Ngãi năm 2016 chủ yếu sử dụng thiết bị cũ, không đáp ứng tiêu chuẩn hiện đại. Nghiên cứu ghi nhận 42,5% phòng X-quang tư nhân có tình trạng rò rỉ tia X vượt mức cho phép. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân viên mà còn gây rủi ro cho bệnh nhân. Việc thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng và thiết bị là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

1.2. Tuân thủ quy định an toàn

Chỉ 83,3% cơ sở y tế thực hiện theo dõi liều kế cá nhân và lập hồ sơ sức khỏe định kỳ cho nhân viên. Điều này cho thấy sự thiếu nghiêm túc trong việc tuân thủ các quy định về an toàn phòng X-quang. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc thiếu đào tạo và huấn luyện định kỳ là yếu tố quan trọng dẫn đến sự thiếu hiểu biết và tuân thủ của nhân viên.

II. Kiến thức phòng bệnh nhiễm xạ

Nghiên cứu đánh giá kiến thức phòng bệnh nhiễm xạ của nhân viên y tế tại Quảng Ngãi năm 2016. Kết quả cho thấy 78,6% nhân viên có kiến thức không đạt chuẩn, chỉ 50% biết liều giới hạn an toàn bức xạ. Điều này phản ánh sự thiếu hiểu biết về tác hại của tia X và các biện pháp phòng ngừa. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức và các yếu tố như tuổi tác, trình độ chuyên môn, và việc tham gia đào tạo an toàn bức xạ.

2.1. Hiểu biết về tác hại của tia X

Nhân viên y tế tại Quảng Ngãi năm 2016 thiếu hiểu biết về tác hại của tia X đối với sức khỏe. Chỉ 50% nhân viên biết liều giới hạn an toàn bức xạ, và 78,6% có kiến thức không đạt chuẩn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức về bệnh nhiễm xạ và các biện pháp phòng ngừa.

2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức

Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức và các yếu tố như tuổi tác (OR=4,2), trình độ chuyên môn (OR=11,5), và việc tham gia đào tạo an toàn bức xạ (OR=7,93). Điều này cho thấy việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn là yếu tố quan trọng giúp cải thiện kiến thức của nhân viên về phòng bệnh nhiễm xạ.

III. Thực hành phòng bệnh nhiễm xạ

Nghiên cứu đánh giá thực hành phòng bệnh nhiễm xạ của nhân viên y tế tại Quảng Ngãi năm 2016. Kết quả cho thấy 70,3% nhân viên có thực hành không đạt chuẩn, trong đó 85,9% không sử dụng thiết bị bảo hộ thường xuyên. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa thực hành và các yếu tố như trình độ chuyên môn, khu vực công tác, và việc tham gia huấn luyện định kỳ.

3.1. Sử dụng thiết bị bảo hộ

Chỉ 14,1% nhân viên y tế tại Quảng Ngãi năm 2016 sử dụng thiết bị bảo hộ thường xuyên. Điều này làm tăng nguy cơ phơi nhiễm bức xạ và ảnh hưởng đến sức khỏe. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc thiếu đào tạo và nhắc nhở từ cán bộ an toàn là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

3.2. Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành

Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa thực hành và các yếu tố như trình độ chuyên môn (OR=3,05), khu vực công tác (OR=12,0), và việc tham gia huấn luyện định kỳ (OR=14,09). Điều này cho thấy việc tăng cường đào tạo và huấn luyện là yếu tố quan trọng giúp cải thiện thực hành của nhân viên về phòng bệnh nhiễm xạ.

23/02/2025
Luận văn điều kiện an toàn của các phòng x quang và kiến thức thực hành phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của nhân viên x quang trong các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh quảng ngãi năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 1895, Röntgen nhà bác học ngƣời Đức đã phát hiện ra tia X dựa trên hiện tƣợng làm đèn phim ảnh. Kể từ đó đến nay, tia X đƣợc nghiên cứu và dần dần đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Đặc biệt trong Y học, chiếu chụp X quang là một trong những phƣơng pháp chẩn đoán quan trọng ngày càng phát triển [60]. Việc dùng tia X, một loại bức xạ ion hóa trong khám và chữa bệnh đã góp phần cứu sống hàng triệu ngƣời nhƣng đồng thời cũng đóng góp mức độ chiếu xạ đáng kể trong các loại bức xạ ion hóa nhân tạo, gây tác hại không nhỏ đối với những ngƣời tiếp xúc.

Đặc biệt là đối với các nhân viên y tế chiếu chụp X- quang liên tục phải tiếp xúc với tia X, loại bức xạ ion hóa này là yếu tố tác hại nghề nghiệp nguy hiểm [69]. Tiếp xúc với bức xạ ion hóa ở các khoa chẩn đoán X-quang, X-quang nha khoa.trong quá trình chẩn đoán và chữa bệnh cũng gây tác hại cho sức khỏe của các nhân viên y tế. Tiếp xúc tích lũy với liều thấp có thể gây những hủy hoại về mặt sinh học. Bức xạ ion hóa gây biến đổi gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc hủy hoại phân chia tế bào.

Ngoài ra còn có các ảnh hƣởng khác bao gồm các bệnh ung thƣ nhƣ ung thƣ máu, xƣơng, da và tuyến giáp [59]. Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hải và cộng sự (2003) ở các phòng X-quang tƣ nhân cho thấy 42,5% số phòng để lọt tia X ra ngoài vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép. Tỷ lệ bất thƣờng nhiễm sắc thể của nhân viên X-quang chiếm 4,12%. Những bệnh lý thƣờng gặp là rối loạn thần kinh thực vậy 18,3%, bệnh lý về mắt 21,7%, bệnh về cột sống 18,3%, rụng tóc 19% [14].

Tƣơng tự, nghiên cứu của Phan Tuấn (1998) về các nhân viên y tế ở Hải Phòng làm việc với tia bức xạ ion hóa cho thấy thiết bị trong các phòng X-quang quá lạc hậu, điều kiện làm việc chƣa an toàn. Trong số 86 cán bộ thƣờng xuyên tiếp xúc với bức xạ in hóa, có ngƣời đã vô sinh, suy giảm bạch cầu, sùi tay, sinh con dị dạng quái thai, 5 trƣờng hợp ung thƣ [34]. Trên thực tế có những trƣờng hợp bị bệnh bạch cầu, suy tủy nhƣ trƣờng hợp kỹ thuật viên X-quang Hoàng Vũ Thọ (Nam Định) làm X quang liên tục 20 năm sử 2 dụng máy Rhum 4 chụp trực tiếp đã bị bệnh bạch cầu cấp và tử vong (năm 1998) với kết quả đo liều hấp thu cá nhân là 23mSv/tháng vƣợt 6 lần mức cho phép [2]. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay có 38 cơ sở sử dụng 45 thiết bị X- quang để chẩn đoán hình ảnh; Trong đó có 19 phòng X-quang nhà nƣớc và 19 phòng X-quang tƣ nhân [23].

Theo báo cáo công tác quản lý về an toàn bức xạ năm 2015 của Sở Khoa học và công nghệ (KHCN) tỉnh Quảng Ngãi thì có 83,3% ngƣời phụ trách an toàn có chứng chỉ an toàn; 83,3% số cơ sở có thực hiện theo dõi liều kế cá nhân cho nhân viên bức xạ; 83,3% số cơ sở có thực hiện lập hồ sơ theo dõi sức khỏe định kỳ cho nhân viên bức xạ [28]. Và từ năm 2007 Sở KHCN tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức điều tra về công tác an toàn bức xạ tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh cho thấy công tác an toàn bức xạ còn nhiều bất cập. Từ đó đến nay đã có sự gia tăng đáng kể về số cơ sở y tế sử dụng nguồn bức xạ ion hóa, kèm theo là sự gia tăng về số nhân viên y tế (NVYT) tiếp xúc với bức xạ ion hóa. Kết quả báo cáo công tác an toàn bức xạ hàng năm của Sở KHCN Quảng Ngãi chƣa phản ánh toàn diện tình hình công tác an toàn bức xạ ở các cơ sở y tế cũng nhƣ không phản ánh đƣợc tình trạng sức khỏe, nhận thức, kiến thức và thực hành của NVYT hiện nay về phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp.

Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chƣa có một nghiên cứu nào về điều kiện an toàn phòng X-quang và kiến thức, thực hành của nhân viên X-quang về phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp. Việc tìm hiểu thực trạng kiến thức, thực hành của nhân viên X-quang về phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp hết sức cần thiết và quan trọng giúp cho Sở KHCN Quảng Ngãi và Sở Y tế Quảng Ngãi thấy đƣợc những khó khăn, thuận lợi và những bất cập trong công tác an toàn bức xạ, công tác phòng chống bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của NVYT tiếp xúc với bức xạ ion trong các cơ sở y tế, từ đó có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và có kế hoạch đào tạo, tập huấn phòng ngừa cho nhân viên X-quang góp phần giảm phơi nhiễm với nguy cơ gây bệnh nhiễm xạ và không mắc bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp. Từ đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Điều kiện an toàn của các phòng X-quang và kiến thức, thực hành phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của nhân viên X- quang trong các cơ cơ y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2016” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng điều kiện an toàn các phòng X-quang ở các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2016 2.

Mô tả kiến thức và thực hành phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của nhân viên X-quang ở các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2016 3. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của nhân viên X-quang ở các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2016 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tia X và phƣơng pháp X-quang chẩn đoán 1. Sự phát hiện tia X và ứng dụng của tia X Tia X đƣợc phát minh năm 1985 do Röntgen (ngƣời Đức) dựa trên sự phát hiện tình cờ tính chất làm đen phim ảnh của tia X.

Sau đó, tia X dần dần đƣợc nghiên cứu kỹ và ứng dụng rộng rãi trong thực tế [60]. Tia X là những bức xạ hãm và bức xạ đặc trƣng có năng lƣợng photon từ 1 KeV cho đến 1MeV; chúng là sóng điện từ, không có khối lƣợng, không có điện tích, có khả năng đâm xuyên lớn và khả năng ion hóa khi tƣơng tác với môi trƣờng vật chất. Tia X là sóng điện từ nên khi tƣơng tác với vật chất nó bị hấp thu, một phần xuyên qua và một phần phản xạ lại tùy theo năng lƣợng của tia và tính chất của vật chất mà nó tƣơng tác [21]. Các ứng dụng của tia X: Từ năm 1895 cho đến nay, tia X ngày càng đƣợc ứng dụng rộng rãi trong khoa học, sản xuất và đời sống, nhất là trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị bệnh.

Trong y học: sử dụng tia X để chẩn đoán đã phổ biến trên thế giới và là phƣơng tiện chẩn đoán không thể thiếu trong các cơ sở khám chƣa bệnh. Hiện nay, ở nƣớc ta, các bệnh viện từ tuyến huyện và tƣơng đƣơng trở lên đều có máy X- quang chẩn đoán. Tia X cũng đƣợc ứng dụng trong xạ trị cùng với các chất phóng xạ khác để điều trị các khối u ác tính. Trong công nghiệp: dùng tia X để phát hiện các vết nứt, các lỗi của các mối hàn, máy móc, thiết bị; đặc biệt dùng tia X để kiểm tra hàng hóa, vũ khí, chất nổ…tại các cửa khẩu, sân bay, bến cảng, nhà ga, bƣu điện và những nơi cần sự đảm bảo an ninh chặt chẽ [1],[2],[21].

Nguyên lý phƣơng pháp chiếu chụp X-quang Trong các ống chiếu Röntgen ngƣời ta cho đập vào mảnh kim loại- anticathode một chùm điện tử đã đƣợc tăng tốc. Sự bắn phá điện cực này sẽ làm cho các điện tử chuyển động và phát ra tia X [1], [21]. 5 Chùm tia phát từ các bong X-quang rất hỗn hợp. Nó gồm các tia đâm xuyên hay tia cứng và những tia dễ bị hấp thụ hay tia mềm.

Khi tia X đi qua cơ thể ngƣời hoặc vật nó sẽ bị hấp thụ môt phần, phần xuyên qua sẽ yếu đi, phần còn lại đó đƣợc chiếu lên màn huỳnh quang hoặc lên phim phụ thuộc vào lớp vật chất mà tia đi qua ngƣời ta sẽ thu đƣợc ảnh ngƣợc lên màn huỳnh quang và trên phim [50]. Để có đƣợc chùm điện tử tăng tốc ngƣời ta dùng dòng điện cao thế 40- 150kV, nhƣ vậy trong hệ thống của máy X-quang có máy biến thế. Điện thế phát lớn tia có năng lƣợng lớn-tia cứng, điện thế nhỏ tia có năng lƣợng nhỏ-tia mềm. Về phƣơng diện y học tia mềm thƣờng nguy hiểm hơn tia cứng, vì khi đi qua các tổ chức mềm của cơ thể tia mềm bị hấp thu gần nhƣ hoàn toàn.

Để khu trú luồng tia X chiếu ra vào đúng phần cần chiếu chụp trên cơ thể ngƣời ta sử dụng các bộ lọc bằng chì, đồng hoặc nhôm để lọc lấy những tia đi thẳng; còn màn chắn bằng chỉ (diaphram) điều khiển đƣờng kính của luồng tia phát ra. Phần tia chiếu ra là tia sơ cấp; có một phần tia khi gặp các vật chắn xung quanh sẽ phản hồi lại tia thứ cấp. Chính những tia thứ cấp này sẽ gây nhiễu hình ảnh trên phim ảnh. Ngoài ra do các nguyên nhân khác nhƣ sự cử động của các cơ quan phủ tạng khi chiếu chụp nên ảnh thƣờng mờ và phải có kiến thức đọc phim tốt mới chẩn đoán đƣợc hình.

Để khắc phục bớt sự mờ của ảnh trong các máy X-quang có lắp bộ phận tăng sáng. Với các máy có chất lƣợng tốt trƣờng xạ phải đảm bảo ổn định, trƣờng sáng phải đủ cƣờng độ tăng quang thì ảnh mới đẹp. Phụ thuộc vào cơ quan, phủ tạng cần chiếu chụp ngƣời ta để các chế độ chiếu chụp khác nhau. Nhƣ: chụp cột sống nghiêng: 90 kV, 200mA, 800mS; chụp xƣơng cẳng tay: 50kVm, 100 mA, 500 mS [50].

An toàn bức xạ ion hóa 1. Tiêu chuẩn phòng X-quang An toàn bức xạ ion hóa phòng X-quang đƣợc thực hiện theo tiêu chuẩn nhà nƣớc TTLT số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT và TCVN 1999-6561. Trong tiêu chuẩn này đƣa ra các quy định về cách bố trí, tổ chức một phòng X-quang, liều cho phép đối với nhân viên và các đối tƣợng khu vực lân cận. Một cơ sở X-quang tối thiểu phải gồm các phòng riêng biệt sau đây: 6 - Phòng chờ (hoặc nơi chờ) của bệnh nhân: Phòng chờ hoặc nơi chờ của bệnh nhân phải tách biệt với phòng máy X-quang.

Liều giới hạn ở mọi điểm trong phòng này không đƣợc vƣợt quá liều giới hạn cho phép là 1 mSv/năm. - Phòng đặt máy X quang: + Diện tích phòng tối thiểu là 20 m2, trong đó chiều rộng tối thiểu là 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

"Điều kiện an toàn phòng X-quang & kiến thức phòng bệnh nhiễm xạ của nhân viên y tế tại Quảng Ngãi 2016" là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá điều kiện an toàn trong các phòng X-quang và kiến thức của nhân viên y tế về phòng ngừa bệnh nhiễm xạ tại Quảng Ngãi. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về thực trạng an toàn bức xạ mà còn đề xuất các biện pháp cải thiện, giúp bảo vệ sức khỏe của nhân viên y tế và bệnh nhân. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các chuyên gia y tế, quản lý bệnh viện và những người quan tâm đến an toàn bức xạ.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn đánh giá an toàn che chắn trong phòng x quang chẩn đoán bằng chương trình MCNP, nghiên cứu này đi sâu vào việc sử dụng công nghệ để đánh giá hiệu quả của các biện pháp che chắn trong phòng X-quang. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật khảo sát và thiết kế kỹ thuật kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân tỉnh Long An cũng là một tài liệu đáng chú ý, cung cấp góc nhìn toàn diện về kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng ngừa và xử lý trong trường hợp khẩn cấp.