CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ROBOT CÔNG NGHIỆP 1.Tự động hoá và robot công nghiệp a” lần đầu Thuật ngữ robot có nguồn gốc từ khoa học viễn tưởng. Từ "Robot kịch người Tiệp Karel tiên xuất hiện năm 1920 trong một vở kịch của nhà viết xử như con người, có Capek, trong đó ông đã mô tả một "nhân vật" có thể ứng tính, cảm giác khả năng làm việc khoẻ gấp đôi con người, nhưng không có cảm từ 40 năm sau đó. như con người. Sự phát triển của lĩnh vực robot bắt đầu Robot được coi Robot được định nghĩa dưới dạng các khía cạnh khác nhau.
Một là một tay máy có một vài bậc tự do, có thể được điều khiển nhận là: Robot công định nghĩa khác về robot công nghiệp hiện nay được chấp thực hiện những nghiệp là một cơ cấu cơ khí có thể lập trình được và có thể đỡ trực tiếp của con công việc có ích một cách tự động không cân sự giúp định nghĩa robot như người. Hiệp hội những nhà chế tạo - nhà sử dụng đưa ra bình thường như sau: Robot là một thiết bị có thể thực hiện được các chức năng được trí tuệ như con người và có thể hợp tác nhau một cách thông minh để có 1995) viết: "Robot có con người. Trong Bách khoa toàn thư mới (phiên bản 7.0 các bộ phận điện thể định nghĩa là một thiết bị tự điều khiển hoàn toàn bao gồm tử, điện và cơ khí." lĩnh vực có Tự động hoá (Automation) và kỹ thuật robot (Robotics) là hai , tự động hoá là một liên quan mật thiết với nhau. Về phương diện công nghiệp tử và hệ thống máy công nghệ liên kết với sử dụng các hệ thống cơ khí, điện dây chuyền vận tính trong vận hành và điều khiển quá trình sản xuất.
Ví dụ, hồi, các máy chuyển, các máy lắp ráp cơ khí, các hệ thống điều khiển phản có thể coi robot là một công cụ điều khiển chương trình số và robot. dang của thiết bi tự động hoá công nghiệp. hoá cố định, tự Có ba loại hệ thống tự động hoá công nghiệp: Tự động định được sử dụng động hoá lập trình và tự động hoá linh hoạt. Tự động hoá cố.
cần thiết kế các ở những dây chuyền sản xuất với số lượng sản phẩm lớn, do đó và hiệu suất rất cao. thiết bị đặc biệt để sản xuất các sản phẩm với số lượng lớn Công nghiệp sản xuất ôtô có thế coi là một vi dụ điến hình. Tính kinh tế của tự động hoá cố định khá cao do giá thành thiết bị chuyên dụng được chia đều cho số lượng lớn các đơn vị sản phẩm, dẫn đến giá thành trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn so với các phương pháp sản xuất khác. Tuy nhiên vốn đầu tư của hệ thống tự động hoá cố định cao, do đó nếu số lượng sản phẩm nhỏ hơn thiết kế, giá thành sản phẩm sẽ rất cao.
Mặt khác, các thiết bị chuyên dùng được thiết kế cho sản xuất một loại sản phẩm, sau khi chu kỳ sản phẩm kết thúc, các thiết bị chuyên dụng đó sẽ trở thành lạc hậu. Tự động hoá lập trình được sử dụng ở quá trình sản xuất với sản phẩm đa dạng và số lượng sản phẩm tương đối thấp. Trong hệ thống tự động hoá này, các trang thiết bị sản xuất được thiết kế để thích nghỉ với các dạng sản phẩm khác nhau. Chương trình sẽ được lập trình và được đọc vào các thiết bị sản xuất ứng với các loại sản phẩm cụ thể.
Về khía cạnh kinh tế, giá thành trang thiết bị lập trình có thể phân bộ cho số lượng lớn sản phẩm, ngay cả với các loại sản phẩm khác nhau. Tự động hoá linh hoạt hoặc hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS), hệ thống sản xuất tích hợp máy tính (hình 1. Ý tưởng của dạng tự động hoá linh hoạt mới được pháp triển và áp dụng vào thực tế quãng 20-25 năm cho thấy phạm vi ứng dụng thích hợp nhất đối với quá trình sản xuất có số lượng sản phẩm trung bình. Dạng tự động hoá linh hoạt sẽ bao gồm các đặc điểm của hai dạng tự động hoá cố định và lập trình.
Nó cần được lập trình cho các loại sản phẩm khác nhau, nhưng số dạng sản phẩm khác nhau sẽ hạn chế hơn loại tự động hoá lập trình. Hệ thống sản xuất bao gồm nhiều trạm làm việc đặt nối tiếp nhau trong một dây chuyển. Máy tính trung tâm và hệ thống điều khiển trung tâm sẽ điều khiển đồng thời các trạm hoạt động. Số lượng sản phẩm † TĐH cố định 15000 |— 500 TĐH linh hoạt 15 TĐH lập trình i ~ 1 3 9 15 30 100 1000 Số loại sản phẩm Hình 1.
Quan hệ số loại và số lượng sản phẩm ứng với các dạng tự động hoá. Robot có liên quan mật thiết với tự động hoá lập trình. Robot là một máy có khả năng lập trình và có một số đặc tính như con người. Robot có thể được lập trình để di chuyển cánh tay thông qua các trình tự chuyển động có tính chu kỳ để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau.
Ví dụ, các máy bốc đỡ hàng, robot hàn, sơn. robot cũng được sử dụng rộng rãi trong hệ thống sản xuất linh hoạt số hoặc thậm chí trong hệ thống tự động hoá cố định. Hệ thống này gồm một máy, hoặc các robot làm việc cùng nhau được điều khiển bằng máy tính hoặc bộ điều khiển lập trình. Ví dụ, dây chuyền hàn vỏ ôtô gồm nhiều cánh tay robot tính có nhiệm vụ hàn các bộ phận khác nhau.
Chương trình lưu trữ trong máy Như được nạp cho từng robot làm việc ở mỗi bộ phận của dây chuyền hàn ôtô. vậy đây là một đây chuyển sản xuất linh hoạt với mức độ tự động hoá 1. Lịch sử phát triển của Robot Bảng 1.1 trình bày tóm tắt những điểm mốc chính của lịch sử phát triển đã có công nghệ robot. Từ thế kỷ 17, một số thiết bị máy móc được chế tạo de: một số đặc tính làm việc như robot công nghiệp hiện nay.
Jacques Maillarder đã Vancanson đã chế tạo một vài "búp bê nhạc sĩ". Năm 1805 Henri đồ chơi đó, chế tạo những con búp bê cơ khí có khả năng vẽ tranh. Trong các thiết bị vẽ và một số cơ cấu cam được sử dụng như một chương trình điều khiển cơ khí khác viết. Trơng cuộc cách mạng công nghiệp, có một số phát minh d (1801).
trong lĩnh vực dệt, điển hình là khung dệt vải của Jacquar Bảng 1. Một số điểm mốc của lịch sử phát triển công nghệ robot Thời gian Sự kiện quan trọng Giữa thế J. de Vancanson ché tạo một số búp bê có khí đánh nhạc. Jacquard phat minh khung dét vai có thé lap trinh 1805 H.
Maillader chế tạo búp bê cơ khí biết vẽ tranh. Babbitt (Mỹ) đã thiết kế một cần trục truyền động động cơ có cơ cấu kẹp để gắp thỏi thép đúc ra khỏi lò nung. Roselund (Mỹ) đã thiết kế một cơ cấu phun sơn lập trình cho Công ty DeVilbiss 1946 G. Devol (Mỹ) sáng chế thiết bị điều khiển có thể ghi lại những tín hiệu điện bằng từ hoá, sau đó được sử dụng để điều khiển một máy cơ khí.
1951 Cơ cấu tay máy điều khiển từ xa có thể mang các vật liệu phóng xạ được chế tạo. 1952 Mẫu máy điều khiển số đầu tiên được trưng bày ở Viện Công nghệ Massachusetts sau một vài năm nghiên cứu chế tạo. Devol đăng ký bản quyền phát minh thiết kế robot. 1960 Robot "Unimate" đầu tiên được giới thiệu là robot truyền động thuỷ lực; nó sử dụng dạng nguyên lý điều khiển số cho điều khiển cơ cấu tay máy.
1961 Công ty Ford lắp đặt Robot Unimate. 1962 Công ty General Motor (GM) lắp đặt robot công nghiệp đầu tiên (robot Unimate) trong dây chuyền sản xuất 1966 Công ty Trallfa (Nauy) lắp đặt robot phun sơn. 1968 | Robot di chuyển "Shakey" được chế tạo tại Viện Nghiên cứu Stanford (My). Robot này được trang bị một số cảm biến tiếp xúc, máy ảnh, có thể di chuyển trên mặt sàn.
1970 Tay máy Stanford là robot nhỏ điều khiển bằng điện được chế tạo ở Trường Đại học Stanford (Mỹ). 1971 Hiệp hội robot công nghiệp Nhật Bản (JIRA) bắt đầu đề xuất sử dụng robot trong công nghiệp Nhật Bản. 1973 Viện Nghiên cứu Stanford (Mỹ) công bố ngôn ngữ lập trình máy tính đầu tiên cho robot trên là ngôn ngữ WÀ VE. 1974 | Cong ty Cincinnati Milacron gidi thiéu Robot TỶ điều khiển bằng máy tính.
1974 Robot "Sigma" được sử dụng trong công nghiệp lắp ráp - là một trong ứng dụng robot trong dây chuyền lắp ráp đầu tiên. 1975 Phòng thí nghiệm Charles Stack Draper (Mỹ) đã chế tạo cơ cấu nhún có tâm ở xa sử dụng cho robot lắp ráp. 1976 Robot PUMA (máy lắp ráp vạn năng có thể lập trình) được trình diễn. 1978 Robot TỶ của Hãng Cincinnati Milacron được lập trình thực hiện các công việc khoan và hàn trên các bộ phận của máy bay.
1978 Robot SCARA được sáng chế cho dây chuyển lắp ráp ở Trường Đại học Yamanashi (Nhật). Một số robot thương mại này được giới thiệu vào năm 1981. 10 1979 Robot công nghiệp bất đầu một thời kỳ phát triển nhanh, với các robot mới. 1980 Robot truyền động trực tiếp (DDR) được sáng chế ở Trường Đại hoc Carnegie-Mellon.
1981 Hãng máy tính IBM chế tạo Robot RS-1 cho lắp ráp. 1982 Một số hệ thống lập trình "OFF-line" được trình diễn cho robot. 1984 Ứng dụng robot tiếp tục phát triển mạnh tập trung vào tích hợp 1986 robot trong các dây chuyền sản xuất linh hoạt (EMS) và hệ thống CIM. 1991 Bước phát triển mới của nền kinh tế thế giới với tập trung sản xuất các sản phẩm phức tạp và ứng dụng công nghệ vi điện tử và công nghệ hiển thị trong robot của dây chuyền sản xuất tự động hóa.
Vào những năm đầu thế kỷ 20, điều khiển số và cơ cấu điều khiển từ xa là hai công nghệ quan trọng trong sự phát triển của robot. Điểu khiển số. (Numrical Control) dugc phat triển cho máy công cụ cuối năm 1940, đầu năm 1950. Năm 1952, Viện Massachusetts (MIT, Mỹ) đã trình diễn máy phay 3 trục điều khiển số.
Lĩnh vực điều khiển xa liên quan với việc sử dụng cơ cấu điều khiển xa (Teleoperator). Đó là một cơ cấu cơ khí thực hiện chuyển động ở khoảng cách xa dưới sự điều khiển của con người. Các cơ cấu tự động này được chế tạo và sử dụng để mang các vật chất độc hại như chất phóng xạ vào các năm 1940. Robot hiện đại là sự kết hợp của kỹ thuật điều khiển số và cơ cấu tự động điều khiển xa.