CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.Khái niệm chính sách tiền tệ Khái niệm CSTT thƣờng đƣợc mô tả thông qua việc NHTW sử dụng các công cụ điều hành nhằm hƣớng tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo đó, một số nhà nghiên cứu và NHTW của một số quốc gia đã đƣa ra khái niệm về CSTT nhƣ sau: Theo Shapiro (2007), CSTT là việc kiểm soát của NHTW đối với cung tiền để đạt đƣợc các mục tiêu của chính sách kinh tế. Trong khi đó, Ragan (2005) cho rằng CSTT là một nhóm các quyết định đƣợc thực hiện bởi Chính phủ, thƣờng đại diện bởi NHTW, liên quan tới lƣợng tiền lƣu thông trong nền kinh tế. Tiếp cận CSTT theo mục tiêu của chính sách này, Đạo luật Cục dự trữ liên bang Mỹ khẳng định CSTT là các hoạt động thực hiện bởi Fed Mỹ để tác động tới mức độ sẵn có và chi phí của tiền tệ và tín dụng nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia.
Tổng hợp các khái niệm cơ bản về CSTT, nghiên cứu cho rằng: CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô đƣợc thực hiện bởi NHTW thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ để tác động tới lƣợng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) nhằm đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế của quốc gia nhƣ ổn định giá cả, tăng trƣởng kinh tế, công ăn việc làm và các mục tiêu khác. Trên thực tế, việc thực thi CSTT đƣợc bắt đầu từ việc xác định mục tiêu cuối cùng của CSTT, sau đó là các giá trị của mục tiêu trung gian thống nhất với mục tiêu cuối cùng, tới các giá trị của mục tiêu hoạt động cần phải đạt đƣợc và cuối cùng là với việc xác định các công cụ mà NHTW có thể kiểm soát trực tiếp nhằm đạt đƣợc các giá trị mong muốn của biến số mục tiêu hoạt động. Khi cú sốc trong và ngoài nƣớc làm ảnh hƣởng tới các mục tiêu của CSTT, NHNN sẽ sử dụng các công cụ CSTT để tác động tới điều kiện tiền tệ, qua đó hƣớng nền kinh tế quay trở lại 9 mục tiêu đề ra ban đầu. Nhƣ vậy, điều hành CSTT luôn bao gồm hai giai đoạn, tuy tách biệt nhƣng có mối quan hệ mật thiết đó là phản ứng của NHTW trƣớc những sự biến động của mục tiêu (thông qua sử dụng các công cụ) và quá trình truyền dẫn những thay đổi trong công cụ tới các mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian, và mục tiêu cuối cùng.
Do có sự khác nhau về mức độ nhạy cảm giữa mục tiêu với từng công cụ CSTT cũng nhƣ sự ảnh hƣởng lẫn nhau giữa các kênh truyền dẫn nên việc vận dụng hiệu quả các công cụ CSTT là điều hết sức phức tạp đối với công tác điều hành của NHTW.Mục tiêu của chính sách tiền tệ Mục tiêu cuối cùng của CSTT Mục tiêu cuối cùng của CSTT là các biến số cuối cùng mà các nhà hoạch định chính sách muốn đạt đƣợc khi điều hành các công cụ CSTT (mục tiêu quan trọng nhất của CSTT). Mục tiêu chính sách tiền tệ hầu nhƣ thống nhất ở các nƣớc. Sự điều chỉnh lƣợng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trƣớc hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trƣởng kinh tế và công ăn việc làm. Mỗi quốc gia có thể lựa chọn mục tiêu cuối cùng của CSTT khác nhau, phụ thuộc vào các đặc điểm về kinh tế - chính trị - xã hội.
Chẳng hạn, ổn định giá cả đƣợc coi là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của NHTW châu Âu. Fed hoạt động với hai mục tiêu cuối cùng bao gồm thúc đẩy việc làm và sản lƣợng nền kinh tế ở mức bền vững tối ƣu và ổn định giá cả. Đối với NHNN Việt Nam, CSTT quốc gia hƣớng tới mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. Mục tiêu trung gian của CSTT Bằng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế nhƣ: giá cả, sản lƣợng và công ăn việc làm.
Ảnh hƣởng của chính sách tiền tệ chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định từ 6 tháng đến 2 năm. Sẽ là quá muộn và không hiệu quả nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, tỷ giá, thất nghiệp để điều chính công cụ. Để khắc phục hạn chế này, NHTW thƣờng xác định các chỉ tiêu cần đạt đƣợc trƣớc khi đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng, gọi là mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động 10 Mục tiêu trung gian mà NHTW các quốc gia lựa chọn thƣờng bao gồm một trong các mục tiêu về cung tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái. Một sự sai lệch của các biến số này khỏi giá trị kỳ vọng có thể đồng nghĩa với một sự sai lệch của mục tiêu cuối cùng khỏi giá trị mục tiêu và vì thế CSTT cần phải đƣợc điều chỉnh lại.
Việc sử dụng cung tiền làm mục tiêu trung gian có lợi thế là NHTW có thể tƣơng đối dễ dàng tác động vào biến số này bằng các công cụ chính sách nhằm giữ cho tốc độ tăng trƣởng cung tiền phù hợp với mục tiêu cuối cùng. Tuy nhiên, việc sử dụng tốc độ tăng trƣởng cung tiền làm mục tiêu trung gian tồn tại một số hạn chế nhất định do những biến động bất thƣờng của biến số này có thể không phải là chỉ báo mạnh yếu của nền kinh tế trong tƣơng lai (thể hiện ở sản lƣợng thực tế tăng hay giảm) mà chỉ đơn giản phản ánh sự thay đổi trong danh mục đầu tƣ của các chủ thể trong nền kinh tế. Hơn nữa, từ những năm 1980, khi cầu tiền trở nên khó dự đoán hơn một cách đáng kể, việc sử dụng tốc độ tăng cung tiền làm mục tiêu trung gian trở nên khó khăn hơn để đạt đƣợc cân đối cung tiền - cầu tiền, từ đó đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng của CSTT. Lãi suất cũng đƣợc sử dụng làm mục tiêu trung gian của CSTT tại các quốc gia.
Sử dụng lãi suất làm mục tiêu trung gian phù hợp khi mà các cú sốc chủ yếu tới nền kinh tế đó ảnh hƣởng nhanh chóng tới thị trƣờng tiền tệ, làm cung tiền và cầu tiền lệch ra khỏi vị trí cân bằng, khiến lãi suất lệch khỏi mức lãi suất mục tiêu. Khi đó, NHTW sẽ sử dụng các công cụ để đƣa lãi suất về mức mục tiêu, giúp ổn định thị trƣờng tiền tệ, từ đó đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng của mình. Một số NHTW khác sử dụng tỷ giá hối đoái danh nghĩa làm mục tiêu trung gian. Những quốc gia sử dụng tỷ giá hối đoái làm mục tiêu trung gian của CSTT thƣờng theo đuổi chế độ tỷ giá có quản lý.
Tuy nhiên trong bối cảnh tự do hóa tài khoản vốn của các quốc gia, việc dòng vốn đảo chiều nhanh chóng sẽ gây khó khăn cho việc duy trì tỷ giá ổn định, đồng thời tỷ giá hối đoái ổn định dễ có nguy cơ bị đầu cơ và từ đó có thể gây ảnh hƣởng xấu tới ổn định của hệ thống tài chính. Hơn nữa, việc duy trì tỷ giá hối đoái ổn định sẽ hạn chế khả năng sử dụng CSTT để đối phó với các cú sốc nội địa. 11 Gần đây, khi khá nhiều NHTW đã chuyển sang cơ chế lạm phát mục tiêu, CSTT không có mục tiêu trung gian chính thức nhƣ tỷ giá hối đoái cố định hay tốc độ tăng trƣởng cung tiền nữa mà bản thân giá trị lạm phát dự báo có thể đƣợc coi là mục tiêu trung gian của CSTT (Svensson, 1999; Berg, 2000). Nếu mức lạm phát trong tƣơng lai đƣợc dự báo sẽ vƣợt ra khỏi vùng mục tiêu, NHTW sẽ sử dụng các công cụ phù hợp để hƣớng tới mục tiêu lạm phát đã đề ra.
Mục tiêu hoạt động của CSTT Mục tiêu hoạt động của CSTT thƣờng là các chỉ tiêu đo lƣờng dự trữ của ngân hàng (nhƣ tổng dự trữ, dự trữ đi vay, hoặc dự trữ không vay), lãi suất ngắn hạn (nhƣ lãi suất qua đêm liên ngân hàng, trong trƣờng hợp của Mỹ là lãi suất vốn liên bang), hoặc một chỉ số về điều kiện tiền tệ kết hợp các biến số lãi suất và tỷ giá. Các NHTW hiện nay có thể xác định một mục tiêu hoạt động duy nhất nhƣ lãi suất vốn liên bang là mục tiêu hoạt động duy nhất của CSTT của Mỹ hoặc có nhiều mục tiêu hoạt động nhƣ trƣờng hợp NHTW Nhật Bản xác định dự trữ vƣợt mức và lãi suất ngắn hạn là hai mục tiêu hoạt động của mình.Các công cụ của chính sách tiền tệ Công cụ của CSTT là các biến số có thể đƣợc kiểm soát trực tiếp bởi NHTW và thƣờng đƣợc sử dụng để đạt đƣợc một giá trị đƣợc định trƣớc của một mục tiêu hoạt động. Ba công cụ cơ bản của CSTT bao gồm: nghiệp vụ thị trƣờng mở, chính sách chiết khấu, và dự trữ bắt buộc. Bên cạnh ba công cụ cơ bản này, các NHTW còn sử dụng một số công cụ khác nhƣ điều chỉnh tỷ giá, lãi suất đối với dự trữ bắt buộc và dự trữ vƣợt mức, đặc biệt là một số công cụ chính sách phi truyền thống (unconventional) đƣợc các NHTW các nƣớc sử dụng trong bối cảnh các công cụ truyền thống kể trên không còn phát huy đƣợc nhiều tác dụng.
Nghiệp vụ thị trƣờng mở là công cụ khá linh hoạt và đƣợc sử dụng thƣờng xuyên nhất của CSTT do công cụ này liên quan tới việc mua bán các giấy tờ có giá kỳ hạn ngắn và có thể tác động đến quy mô dự trữ của ngân hàng hàng ngày. Chính sách chiết khấu với các quy định về lãi suất chiết khấu, hạn mức chiết khấu, các điều kiện chiết khấu có khả năng ảnh hƣởng tới khả năng tạo tiền của hệ 12 thống ngân hàng, từ đó ảnh hƣởng tới lƣợng tiền cung ứng trong nền kinh tế. Chính sách chiết khấu là công cụ để NHTW thực hiện chức năng ngƣời cho vay cuối cùng và nó đặc biệt có hiệu quả trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, các ngân hàng bị thiếu thanh khoản thì tiền đƣợc bơm ngay lập tức đến ngân hàng nào đang cần nó nhất qua công cụ này. Ngoài ra, lãi suất chiết khấu cũng có vai trò thông báo về định hƣớng điều hành CSTT của NHTW tới các chủ thể trong nền kinh tế.