Chương 1: Tình yêu như là diễn ngôn Chương 2: The English patient – Ký ức tình yêu như là sự hình thành căn tính Chương 3: The reader – Tình yêu như là mã văn hóa trong hệ quy chiếu chính trị. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TÌNH YÊU NHƢ LÀ DIỄN NGÔN 1. Khái niệm diễn ngôn Ngày nay, có thể thấy thuật ngữ diễn ngôn không chỉ được sử dụng trong các ngành nghiên cứu mà còn được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống. Dường như mọi phát ngôn của con người đều có thể dễ dàng quy kết thành diễn ngôn.
Vậy thực chất Diễn ngôn là gì? Và nếu coi một tác phẩm nghệ thuật, với tư cách là một diễn ngôn, thì chúng ta có những cách thức, dấu hiệu nào để nhận diện diễn ngôn? Thuật ngữ Discourse được dịch theo nhiều cách, tùy vào từng lĩnh vực khoa học khác nhau mà có thể gọi là: giải trình ngôn ngữ, diễn ngôn, ngôn bản, ngữ trình, diễn từ, lời nói. Rõ ràng, ngay từ việc dịch thuật ngữ Discourse, đã chứng tỏ sự khó khăn của việc nắm bắt nội hàm khái niệm. Thuật ngữ diễn ngôn được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực: văn học, điện ảnh, hội họa, âm nhạc, chính trị, y học. Ở mỗi ngành/ lĩnh vực khác nhau, lại có những cách hiểu về diễn ngôn khác nhau.
Trong cuốn Discourse, tác giả Sara Mills cho rằng "diễn ngôn là thuật ngữ có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào của lý luận văn học và văn hóa” [22]. Quan điểm Bakhtin trong tiểu luận Vấn đề các thể loại lời nói, cho rằng “đối thoại là bản chất của diễn ngôn”, ngoài ra tính chất “chủ thể của diễn ngôn” cũng được ông nhấn mạnh. Trong các tư tưởng về diễn ngôn, chúng tôi nhận thấy tư tưởng về diễn ngôn của Foucault là sợi chỉ đỏ không chỉ lý giải toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông mà còn là căn cứ khá đầy đủ và hữu ích trong việc lý giải các diễn ngôn thời đại. Foucault cho rằng: “Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mối quan tâm lớn nhất của Foucault thì diễn ngôn là một mắt xích không thể thiếu để tìm hiểu hai yếu tố này.
Với Foucault, cả tri thức và quyền lực đều chỉ có thể được tạo ra, được hiện thực hóa, được vận hành và phân phối bởi và trong diễn ngôn” [22]. Foucault tập trung nghiên cứu các điều kiện hoạt động của các diễn ngôn đặc thù, ông đề cập đến việc coi diễn ngôn ngang với những sự kiện, hành động tạo nghĩa. Do vậy mà Foucault cho rằng cần thiết phải có nghiên cứu về những điều kiện hình thành diễn ngôn. Trong bài viết Thế nào là tác giả?, ông thấy không phải diễn ngôn nào cũng có “chức năng tác giả”.
Ngược lại, những diễn ngôn hậu hiện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại chỉ có thể được chấp nhận với điều kiện nó phải có “chức năng tác giả”. Không thể có một diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại, hay một diễn ngôn đúng nghĩa nếu không biết tác giả, chủ thể diễn ngôn. Vai trò tác giả, đặc điểm phong cách tác giả, là hướng nghiên cứu quan trọng không chỉ trong văn học mà còn trong điện ảnh. Một diễn ngôn phải có tên tác giả để người ta thấy rằng “điều này đã được nói đến bởi người này” [16].
Soi chiếu một vài diễn ngôn với tư cách là những “đại tự sự” từ những góc độ lý thuyết mà chúng tôi đã dẫn giải ở trên sẽ thấy diễn ngôn không đơn giản chỉ là tuyển tập các tuyên bố, nhận định nhất thời, giản đơn mà diễn ngôn phải có tính đối thoại (quan điểm Bakhtin), có chủ thể diễn ngôn, có tính quyền lực và tri thức (quan điểm Foucault). Ở lĩnh vực khoa học nghệ thuật, diễn ngôn đã trở thành một thuật ngữ quan trọng trong các công trình nghiên cứu của các trường phái: Phân tích diễn ngôn phê phán, Chủ nghĩa hậu hiện đại, Chủ nghĩa thuộc địa và hậu thuộc địa, Lý thuyết nữ quyền… Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam – Ba mươi năm đầu thế kỷ XX, Phạm Xuân Thạch cho rằng "diễn ngôn là một sản phẩm của một hành vi ngôn ngữ, nó bắt buộc người nghiên cứu diễn ngôn không chỉ quan tâm đến nội dung của diễn ngôn mà cả thái độ của người phát ngôn. Như các nghiên cứu về diễn ngôn đã chứng minh, có hai loại thái độ cơ bản: hoặc người phát ngôn đồng nhất diễn ngôn của mình với chân lí về hiện thực, hoặc anh ta đặt luôn vấn đề về tính xác thực của chính những điều mà anh ta phát biểu" [41, tr. Nghiên cứu diễn ngôn trên cơ sở nền tảng ý thức hệ, người viết đã chỉ ra "những chiến lược tạo nghĩa cơ bản trong diễn ngôn tự sự, từ kiểu diễn ngôn ý thức hệ, kiểu diễn ngôn có tính phê phán, cho đến kiểu diễn ngôn có tính giễu nhại ý thức hệ đã manh nha trong tự sự giai đoạn này" [41, tr.
Từ những dẫn giải trên, có thể thấy hầu hết các tài liệu khoa học tập trung thực hành phân tích cắt nghĩa lý giải diễn ngôn trong ngôn ngữ, văn chương. Trong khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn trong tác phẩm điện ảnh. Mỗi một lĩnh vực khoa học, hay phạm vi tri thức đều có một mã ngôn ngữ, lớp ngôn ngữ, dạng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức ngôn ngữ khác nhau để diễn đạt biểu hiện diễn ngôn. Ngôn ngữ tác phẩm điện ảnh khác với ngôn ngữ tác phẩm văn học, càng khác biệt hơn nữa so với ngôn ngữ hình thể trên sân khấu.
Do vậy, tất yếu sẽ tạo hình thành các lớp diễn ngôn khác nhau, dẫn đến việc hình thành diễn ngôn và tính chất diễn ngôn một cách khu biệt. “Do chỗ con người sử dụng diễn ngôn để kiến tạo nghĩa về thế giới nói chung, thiết lập nghĩa về một hiện tượng, một vật thể nào đó nói riêng cho nên muốn lý giải diễn ngôn cần phải đặt nó trong quan hệ với sự vật, và tìm hiểu cách người ta nhìn sự vật, hiện tượng như thế nào” [16]. Đồng thời diễn ngôn điện ảnh còn thể hiện rất rõ phong cách, dấu ấn đạo diễn, bản sắc ngôn ngữ điện ảnh (qua sự thể hiện góc quay, cỡ máy, hình ảnh, âm thanh. Nghiên cứu diễn ngôn điện ảnh cần phải có sự so sánh phân tích những diễn ngôn và quan hệ “liên văn bản” giữa các diễn ngôn.
Diễn ngôn điện ảnh cũng có điểm tương đồng với diễn ngôn văn học. Chỉ có thể được coi là một diễn ngôn khi diễn ngôn ấy phải được “sinh hạ” trong môi trường xã hội, vì vậy nó phải có tính xã hội và tính đối thoại rõ nét. Dù diễn ngôn mang đậm sắc màu, cảm quan cá nhân của đạo diễn, nhưng diễn ngôn hoàn toàn không đơn giản chỉ là tư tưởng, những tuyên cáo trong một xã hội lạc loài, không có thực, diễn ngôn ẩn chứa bên trong bản thể của nó những vấn đề hiện sinh của cuộc sống. Do vậy, khi nghiên cứu diễn ngôn một điều quan trọng nữa phải đặt diễn ngôn ấy vào trong điều kiện xã hội, hoàn cảnh xã hội và các phong trào văn hóa trong lịch sử loài người.
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu diễn ngôn tình yêu trong điện ảnh qua sự khảo sát, phân tích hai bộ phim chuyển thể The English patient (1996) của đạo diễn Anthony Minghella và The reader (2008) của đạo diễn Stephen Daldry. Từ đó làm rõ nội dung diễn ngôn, chủ ý của diễn ngôn, địa vị và thái độ của chủ thể diễn ngôn. Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh “Lịch sử quan hệ giữa phim ảnh và văn chương là một lịch sử yêu ghét lẫn lộn, đương đầu và phụ thuộc lẫn nhau. Từ cuối thế kỷ 19 cho tới nay, hai cách nhìn và mô tả thế giới này đã nhiều lần khinh thường nhau, cứu rỗi nhau, học hỏi từ nhau 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và làm méo mó bản ngã tự phong của nhau” [9, tr.
Cho tới nay, khái niệm chuyển thể không còn là một thuật ngữ quá mới mẻ. Nó có mặt ở khắp các nơi từ trong tác phẩm văn học, điện ảnh, truyện tranh, hội họa, âm nhạc phê bình cho tới cuộc sống bên ngoài. Bởi vậy, việc tìm hiểu thuật ngữ chuyển thể nói chung và tìm hiểu những vấn đề trong việc chuyển thể từ tác phẩm văn học sang điện sẽ giúp cho người đọc hiểu rõ được bản chất của vấn đề, từ đó sẽ hiểu được việc các nhà làm phim đã làm như thế nào để xây dựng một bộ phim hay, mới mẻ trên cơ sở tiếp nhận và tái tạo những yếu tố nghệ thuật từ nguyên tác văn học. Phim chuyển thể là một vấn đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu điện ảnh trong và ngoài nước.
Trong lịch sử điện ảnh, thuật ngữ chuyển thể đã trở thành một chủ đề cho nhiều cuộc tranh luận. Theo Michel Serceau “nó đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghệ thuật của phương Tây từ năm 1885, tức là mười năm trước khi điện ảnh xuất hiện với ý nghĩa ban đầu của nó nhằm để chỉ việc cải biên một tiểu thuyết thành một vở diễn trên sân khấu” [10]. Đến những năm 1920, Jacques Feyder cho rằng, chuyển thể là “sự chuyển đổi sang hình ảnh” hay còn gọi là sự dịch (traduction). Tuy nhiên, định nghĩa ban đầu này còn rất chung chung và trừu tượng.
Chưa thể giúp người đọc hình dung ra và hiểu được bản chất của vấn đề chuyển thể trong điện ảnh. Quan niệm chuyển thể của các nhà nghiên cứu đi trước vẫn chưa thực sự làm hài lòng các chuyên gia. Vẫn tiếp tục có những quan niệm mới tìm cách đối lập và làm rõ thêm vấn đề chuyển thể trong lịch sử điện ảnh thế giới. Năm 1954, André Bazin đưa ra quan niệm “Chuyển thể có thể và phải là một công việc đạt đến độ tái tạo lại những gì cốt yếu nhất của từ ngữ và của trí tuệ/ tư duy trong văn bản văn học” [10].
Xét trên lĩnh vực ngôn ngữ và phong cách trong sáng tạo điện ảnh, quan niệm của Bazin không đề cao việc dịch một tác phẩm hoàn toàn chuẩn xác (mot à mot) cũng như việc dịch tự do giống như “cưỡng bức” tác phẩm văn học gốc. Còn nhà nghiên cứu Francois Truffaut khi bàn về quan niệm chuyển thể đã nhấn mạnh việc tránh tìm kiếm những gì tương đương của hình ảnh 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phim với hình thức của văn học và ngược lại giữ nó ở mức độ gần nhất có thể với tác phẩm gốc” [10].