CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm ngân hàng nước ngoài và địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài 1. Khái niệm ngân hàng nước ngoài và ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu và đang diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung và quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong điều kiện nền kinh tế mở, mỗi quốc gia không chỉ có ngân hàng nước sở tại mà còn tồn tại nhiều ngân hàng có vốn nước ngoài. Các ngân hàng nước ngoài xâm nhập vào thị trường tài chính thông qua nhiều hình thức đầu tư như: góp vốn liên doanh với ngân hàng trong nước, mua cổ phẩn của ngân hàng trong nước và tham gia trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp trong nước, mua cổ phần ngân hàng trong nước nhưng không tham gia hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài, mở chi nhánh, văn phòng đại diện của mình tại nước sở tại,.
Trên thế giới, sự ra đời và phát triển của các loại hình ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Từ những năm 1990, nhiều quốc gia trên thế giới đã mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường ngân hàng của họ dưới hình thức ngân hàng con, trong việc đáp ứng nhu cầu hệ thống tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng. Theo thời gian, sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài ở các quốc gia sở tại ngày càng gia tăng trên thế giới, đặc biệt ở các nước Đông Âu. Đây là kết quả của xu hướng toàn cầu hóa và tự do tài chính.
Ở Nga, cơ quan điều hành cho phép sự đầu tư vốn nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp vào lĩnh vực ngân hàng từ những năm 1990, đến cuối năm 2000 đã có 22 ngân hàng ở Nga có 100% vốn nước ngoài bên cạnh 31 ngân hàng có vốn nước ngoài và hơn 150 ngân hàng có tỷ lệ vốn nước ngoài nhất định [52,206]. Đến cuối năm 2007, có 205 ngân hàng từ 59 quốc gia hoạt động ở Hoa Kỳ dưới hình thức văn phòng đại diện, đại lý, chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài [55]. Ở Trung Quốc, với việc gia nhập WTO vào ngày 11/12/2001, nước này đã thực 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện tự do hóa hoàn toàn lĩnh vực ngân hàng trong thời hạn 05 năm theo cam kết, vì vậy, Trung Quốc đã thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Đến năm 2008, có 20 ngân hàng nước ngoài nhận được giấy phép thành lập ngân hàng con ở Trung Quốc và có số này có thể tăng lên 50 ngân hàng vào năm 2011[53].
Ở Việt Nam, đến năm 2011 đã có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, cùng với 5 ngân hàng thương mại Liên doanh và 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp phép và hoạt động tại Việt Nam [48]. Như vậy, có thể thấy, hoạt động đầu tư của ngân hàng nước ngoài ở các quốc gia sở tại ra đời và không ngừng gia tăng ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam. Sự hiện diện và hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại nước sở tại phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế quốc gia cũng như nền kinh tế thế giới. Theo Luật ngân hàng có vốn nước ngoài của Trung Quốc thì ngân hàng nước ngoài (foreign bank) là ngân hàng thương mại đã được đăng ký thành lập bên ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc và được sự chấp thuận hoặc cấp phép của cơ quan giám sát tài chính của đất nước mình hoặc khu vực.
Ngân hàng có vốn nước ngoài (foreign-funded bank) được hiểu là bất kỳ tổ chức nào dưới đây được chấp thuận để thành lập trong lãnh thổ nước Công hòa dân chủ nhân dân Trung Quốc, phù hợp với quy định của pháp luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc: 1. Ngân hàng có toàn bộ vốn nước ngoài được làm chủ bởi ngân hàng nước ngoài hoặc có sự liên doanh với bất kỳ một tổ chức tài chính nước ngoài khác; 2. Ngân hàng liên doanh Trung Quốc – nước ngoài, với vốn có sự liên doanh giữa một tổ chức tài chính trong nước với một công ty Trung Quốc; 3. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài [57].
Theo quy định của pháp luật Mỹ, ngân hàng nước ngoài là tổ chức được tổ chức theo pháp luật của quốc gia nước ngoài và có sự tham gia trực tiếp trong việc kinh doanh của ngân hàng bên ngoài nước Mỹ. Theo đó, các ngân hàng nước ngoài có thể thực hiện đầu tư vào Mỹ và thực hiện hoạt động ngân hàng tại Mỹ dưới hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh, đại lý, ngân hàng con [55,1]. Ở Việt Nam, năm 1990, cơ chế đổi mới ngân hàng được thực hiện thông qua việc công bố hai Pháp lệnh ngân hàng vào ngày 24/05/1990 (Pháp lệnh ngân hàng Nhà 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt đồng của ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã đánh dấu sự ra đời và phát triền từ năm 1990.
Đến nay, để thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống ngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phù hợp và thống nhất. Không nằm ngoài xu thế chung của thế giới, các ngân hàng nước ngoài hoạt động sôi nổi ở Việt Nam với nhiều hình thức hiện diện thương mại. Các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Theo Nghị định 22/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2006 về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam: “Ngân hàng nước ngoài” là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, có hoạt động chủ yếu và thường xuyên là hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức tổ chức sau đây: a) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; b) Ngân hàng liên doanh; c) Ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Tổ chức tín dụng nước ngoài thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khác với hình thức ngân hàng khác, ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài có những đặc điểm riêng mang tính chất riêng biệt ở chỗ nó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư, vì vậy nó không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng mà còn chị sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quy định của Luật đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (bao gồm cả lĩnh vực ngân hàng) thông qua hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp: - Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư; - Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Điều 21 Luật đầu tư 2005 quy định các hình thức đầu tư trực tiếp gồm: 1. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; 2. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; 3. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, Hợp đồng BOT, Hợp đồng BT; 4.
Đầu tư phát triển kinh doanh; 5. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; 6. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; 7. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Theo Điều 26 Luật Đầu tư 2005 thì các hình thức đầu tư gián tiếp bao gồm: 1. Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây: a) Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; b) Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; c) Thông qua các định chế tài chính trung gian khác. Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo điểm b khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư trực tiếp để thành lập tổ chức tín dụng (bao gồm các ngân hàng) tại Việt Nam nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện, quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy theo quy định của pháp luật Việt Nam, địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài chủ yếu sẽ thực hiện thông qua việc thành lập ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hay hoạt động góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam. Địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài Theo thực tiễn quốc tế, pháp nhân được thành lập theo quy định của một nước nhất định. Nói cách khác, việc công nhận một tổ chức có tư cách pháp nhân phải dựa trên cơ sở của một nước nhất định. Thông thường một tổ chức được công nhận có tư cách pháp nhân ở nước nó được thành lập cũng được công nhận có tư cách pháp nhân ở nước khác.
Pháp nhân mang quốc tịch của một nước nhất định và được tổ chức và hoạt động theo pháp luật của nước đó. Nói cách khác, năng lực pháp luật dân sự, điều kiện và thủ tục thành lập, hợp nhất, chia, tách, giải thể pháp nhân, thanh lý tài sản khi giải thể pháp nhân .do pháp luật của nước pháp nhân mang quốc tịch.