Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRUNG CẤP THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự 1.1 Quan niệm, lịch sử hình thành Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự 1. Quan niệm về Chấp hành viên trung cấp thi hành án dân sự Theo quy định mới của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì khái niệm công chức được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Dựa vào những quy định trên cho thấy, Chấp hành viên trung cấp trước hết là công chức Nhà nước.
Trong mỗi cơ quan khác nhau thì có những chức danh khác nhau để thực thi nhiệm vụ của cơ quan đó. Chẳng hạn, đối với cơ quan Tòa án thì người thực hiện chức năng xét xử là Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp hay đối với cơ quan Viện kiểm sát thì người thực 9 hiện chức năng công tố là Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp.Tại các Cơ quan thi hành án dân sự đều có các cán bộ làm nhiệm vụ thi hành án và các cán bộ làm các nhiệm vụ khác liên quan đến việc thi hành án, như thủ quỹ, kế toán, thủ kho. Nhưng người có nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác do pháp luật quy định được gọi là Chấp hành viên và theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì: “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch: Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp”[29].
Hướng dẫn thực hiện Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Khoản 1 Điều 6 Thông tư 03/2017/TT-BTP ngày 05/4/2017 của Bộ Tư pháp Quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành thi hành án dân sự thì: “Chấp hành viên trung cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, trực tiếp tổ chức thi hành, đôn đốc thi hành các vụ việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành lớn; việc thi hành án liên quan đến nhiều địa phương thuộc thẩm quyền của Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự". Như vậy, theo tác giả Chấp hành viên trung cấp trước hết là công chức Nhà nước, được bổ nhiệm theo những tiêu chuẩn do pháp luật quy định, công tác tại các cơ quan Thi hành án dân sự ở cấp tỉnh, cấp huyện, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra. Theo đó, chấp hành viên trung cấp sẽ nhân danh Nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, chấp hành 10 viên trung cấp chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ.
Khái quát lịch sử hình thành Chấp hành viên trung cấp Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 47, với 6 chương, gồm 12 điều, trong đó quy định nguyên tắc: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này”, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà. Tại Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp "Về việc thi hành án Hình và án Hộ" quy định cụ thể những nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Thông tư xác định trách nhiệm thi hành án của Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã và nhấn mạnh vai trò của ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ thi hành án. Ở nước ta giai đoạn này tồn tại dưới hai hình thức là Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã.
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về "Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng". Sắc lệnh có 4 chương với 20 điều. Tại Điều 19 Sắc lệnh quy định "Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án Hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án Hộ mà chính Tòa án huyện và Tòa án trên đã tuyên. Việc phát mãi bất động sản và phân phối tiền bán được cũng do Tòa án huyện phụ trách.
Trong trường hợp có nhiều bất động sản rải rác ở nhiều huyện khác nhau thì Biện lý sẽ chỉ định một Thẩm phán huyện để việc phát mãi đó vừa có lợi cho chủ nợ lẫn người mắc nợ". Theo quy định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng 11 Thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định tại Điều 24: “Tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự” thì việc thi hành án dân sự do nhân viên chấp hành án thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp hành án được xác định rõ trong luật tổ chức Tòa án nhân dân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.
Ngày 13/10/1972, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên; cùng ngày này, Toà án nhân dân tối cao cũng ban hành Thông tư số 187-TC hướng dẫn thi hành Quyết định số 186-TC nêu trên, tên gọi “Chấp hành viên” được ra đời thay cho “nhân viên chấp hành án” để làm nhiệm vụ thi hành án dân sự. Chấp hành viên được đặt tại Toà án, dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Toà án. Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định về dân sự, những khoản xử phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường, hoàn trả lại tài sản trong các bản án, quyết định hình sự; giúp Chánh án Tòa án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án tại các Tòa án nhân dân cấp dưới. Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân dân nơi mình công tác.
Như vậy, chức danh Chấp hành viên ra đời từ năm 1972 và trở thành chức danh tư pháp độc lập với chức danh thẩm phán, được biên chế trong các Toà án nhân dân địa phương, có nhiệm vụ chuyên trách thi hành các bản án, quyết định của toà án dưới sự chỉ đạo của chánh án. Bước ngoặt quan trọng, có tác động mạnh mẽ trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ chấp hành viên được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiến 12 pháp năm 1980 - Hiến pháp của thời kỳ cả nước hoà bình, thống nhất, độc lập, quá độ lên CNXH. Nhằm cụ thể hoá Hiến pháp mới, ngày 03/7/1981, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức toà án nhân dân thay thế Luật năm 1960. Điều 16 của Luật đã giao cho Bộ Tư pháp đảm nhiệm quản lý Tòa án nhân dân địa phương và công tác thi hành án dân sự.
Đến năm 1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự đầu tiên, đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự, đặt cơ sở pháp luật cho công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ chấp hành viên thời kỳ đổi mới. Trên cơ sở Pháp lệnh, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra Nghị định số 68/HĐBT ngày 06/3/1990, ban hành Quy chế chấp hành viên, quy định chỉ có chấp hành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của toà án. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định số lượng biên chế chấp hành viên cho từng địa phương. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định theo đề nghị của chánh án Toà án nhân dân các địa phương.
Theo Quy chế chấp hành viên, ở Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân huyện có chấp hành viên trưởng và các chấp hành viên. Chánh án các toà án này có quyền ra các quyết định thi hành án; chấp hành viên trưởng, chấp hành viên có quyền ra các quyết định cưỡng chế, thực hiện cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động thi hành án của cơ quan thi hành án và chấp hành viên. Thực tế cho thấy, tuy Bộ Tư pháp được giao chức năng quản lý nhà nước công tác thi hành án, song đội ngũ chấp hành viên vẫn thuộc biên chế của các toà án; chánh án là người trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ, mọi quyết định quan trọng trong thi hành án đều do chánh án quyết định.