Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. QUAN NIỆM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm Khi một người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, các cơ quan tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn và ban hành các quyết định áp dụng pháp luật để tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố và xét xử.
Trong mỗi giai đoạn tố tụng, người thực hiện hành vi phạm tội đó có những tư cách nhất định. Từ khi bị can bị Tòa án ra quyết định xét xử vụ án thì tư cách bị cáo của người đó xuất hiện [11, tr. Như vậy có thể hiểu bị cáo là người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó được quy định trong Bộ luật Hình sự, bị VKS truy tố bằng cáo trạng thông qua quyết định truy tố và bị Tòa án đưa ra xét xử.Với tư cách là cá nhân, công dân, trên cơ sở nguyên tắc suy đoán vô tội, bị cáo mới chỉ bị coi là người bị tình nghi đã thực hiện tội phạm.
Do vậy bị cáo cũng có các quyền con người theo quy định trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Nhà nước cũng như các chủ thể khác phải tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền đó trên thực tế. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về quyền của bị cáo. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng quyền của bị cáo là những bảo đảm pháp lý được ghi nhận trong pháp luật, cho phép bị cáo sử dụng các quyền đó để thực hiện các quyền khác hay chống lại sự vi phạm các quyền khác [12, tr.
Tuy nhiên, 8 Luan van quan niệm được nhiều học giả thừa nhận cho rằng quyền của bị cáo là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người, quyền công dân khi một người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự, đã bị VKS ra quyết định truy tố và Tòa án ra quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử" [12, tr. Vì thế, Nhà nước, các cơ quan nhà nước, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác có trách nhiệm phải bảo đảm các quyền của bị cáo. Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là những giá trị, nhu cầu và lợi ích hợp pháp vốn có của bị cáo, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và quốc gia được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong giai đoạn xét xử. Đặc điểm Quyền của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự là quyền của người bị cáo buộc là phạm tội và họ được hưởng những quyền lợi chính đáng, phù hợp với địa vị của họ.
Quyền của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quyền của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự là những quyền cơ bản của con người cho dù người bị xét xử có bị tước hoặc hạn chế một số quyền tự do. Quyền là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành. Trong trường hợp bị tước đoạt hoặc khi thiếu được yêu cầu để có, có thể đòi hỏi để giành lại. Quyền của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự là một bộ phận cấu thành của quyền con người.
Quyền con người xuất phát từ chính phẩm giá của mỗi con người, không phân biệt giới tính, dân tộc, màu da, ngôn ngữ hay bất kỳ địa vị nào. Người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử cũng có những phẩm chất và giá trị con người. Không phải vì bị cáo buộc phạm tội mà các giá trị con người của họ bị mất hết và không còn là con người. Vì vậy, bị cáo cũng phải có các quyền con 9 Luan van người cơ bản - những quyền mà tạo hóa ban cho và không ai có thể tước đoạt.
Điều đó có nghĩa rằng, người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử cũng được hưởng các quyền con người cơ bản trên cương vị bình đẳng như bất cứ cá nhân nào khác. Bên cạnh đó, họ còn được hưởng những quyền đặc thù, mà bản chất là những ưu tiên hoặc cơ chế bảo vệ đặc biệt dành cho nhóm người này dựa trên những đặc điểm, tính chất và hoàn cảnh của họ. Đó là các quyền như quyền không bị tra tấn, quyền được đối xử nhân đạo, quyền được thông tin về lý do bắt giữ và các quyền được có khi bị bắt giữ, các quyền thuộc nhóm quyền xét xử công bằng, quyền của nhóm người dưới 18 tuổi. Thứ hai, quyền của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Pháp luật là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc thực hiện, bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Thông qua pháp luật, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Vai trò của pháp luật đối với việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của bị cáo thể hiện rõ ở hai khía cạnh là chính thức hóa và pháp lý hóa giá trị xã hội của các quyền tự nhiên. Thậm chí ngay cả khi được thừa nhận, các quyền tự nhiên của bị cáo cũng không được mặc định áp dụng, mà chỉ khi được pháp luật thừa nhận và bảo vệ thì những quyền của bị cáo mới mang đầy đủ giá trị hiện thực.
Cụ thể: - Về nội dung: Khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, pháp luật ghi nhận các quyền của bị cáo như quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ vụ án, bản án, quyết định của Tòa án, các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật; quyền tham gia phiên tòa; quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ; quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người 10 Luan van giám định, người phiên dịch; quyền đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà; quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án; quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và một số quyền khác theo quy định của pháp luật. - Về hình thức biểu hiện: Các quyền của bị cáo không chỉ được coi là các quyền tố tụng được ghi nhận trong Bộ luật TTHS mà còn được thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong các quy định của Hiến pháp đến các đạo luật và văn bản dưới luật. Đó là các quy định về nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự và Bộ luật TTHS; các nguyên tắc của TTHS; quy định về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; trình tự, thủ tục tố tụng; khiếu nại, tố cáo và xử lý trách nhiệm đối với các vi phạm pháp luật trong TTHS. Ngoài ra, quyền của bị cáo còn được thể hiện trong các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong các văn bản pháp luật khác Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKS, Pháp lệnh về Thẩm phán, Luật Luật sư, Luật trợ giúp pháp lý… - Về thời điểm xuất hiện các quyền: Bị cáo tham gia TTHS kể từ khi có quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và bản án đó phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
Bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm mà mới chỉ bị tình nghi là người đã thực hiện hành vi phạm tội. Với tư cách là cá nhân, công dân, quyền của bị cáo bao gồm những giá trị, những lợi ích về vật chất và tinh thần được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và tiến bộ xã hội. Bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là việc Nhà nước chính thức ghi nhận các quyền đó bằng pháp luật đồng thời, các chủ thể (cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân) thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, tạo điều kiện cho chủ thể của quyền tiếp cận, hưởng thụ được các quyền đó trên thực tế.
Bảo đảm quyền con người trước hết là trách nhiệm của Nhà nước. Bảo đảm quyền con người thông qua các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, VKS và các cơ quan nhà nước khác trong đó Tòa án có vị trí, vai trò quan trọng. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102).
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án. Tại đây Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước phán quyết hành vi phạm tội của người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết những vấn đề khác của vụ án. trong các cấp xét xử thì cấp sơ thẩm được xem là có vai trò quan trọng nhất bởi đây là giai đoạn mà toàn bộ vụ án và mọi vấn đề liên quan đến vụ án được xem xét lần đầu và quyết định.