Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT TO TUNG HINH SỰ HIỆN HANH VE DIA VỊ PHÁP LY CUA NGƯỜI BAO CHỮA TRONG GIAI DOAN DIEU TRA VỤ AN HÌNH SU 1. Khái niệm người bao chữa va dia vị pháp lý của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Khái niệm người bào chữa đã không còn xa lạ, tuy nhiện hiện nay trong khoa học pháp lý và thực tiễn t6 tụng có những cách hiểu khác nhau về người bào chữa. Một số tác giả khi nghiên cứu chế định người bào chữa thường tự xây dựng khái niệm người bào chữa từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về người bào chữa.
Có quan điểm cho rang: “người bào chữa là người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tat cả các tình tiết cân thiết về vụ án để cuối cùng Toa án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật [L, tr. Có tác giả còn khang định rằng người bao chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án [10]. Cũng có khái niệm ở mức độ khái quát: “Người bào chữa là một loại người tham gia tô tụng, có địa vị pháp lý riêng không phụ thuộc vào địa vị pháp lý của người bị tạm giam, bị can bị cáo” [32]. Bộ luật TTHS Liên bang Nga năm 2001 đưa ra khái niệm người bào chữa trong TTHS : “người bào chữa là người thực hiện việc bảo vệ các qyền và lợi ích của người bị tình nghỉ và bị can và giúp họ về mặt pháp lý trong quá trình tô tung doi với vụ án theo thủ tục quy định theo Bộ luật này ”.
Người bào chữa là người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án. Họ tham gia tố tụng là nhằm dé bảo vệ các quyền và lợi ich hợp pháp cho người bị buộc tội. Người bào chữa không phải là người tiến hành tố tụng mà chỉ là người tham gia tố tụng. Từ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của người bào chữa.
“Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành. Hơn nữa, người bào chữa không phải là người được nhân danh quyên lực nhà nước và không được sử dụng quyền lực nhà nước như những người tiễn hành tố tụng. Bên cạnh đó, cũng không thé đồng nhất khái niệm người bào chữa với người bảo vệ quyên lợi của đương sự. Như đã trình bày, người bào chữa không có quyền và lợi ích trong vụ án hình sự.
Việc họ tham gia tố tụng bat luận trong trường hop nào cũng chỉ để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, người bào chữa không phải là người tiến hành tố tụng. Hoạt động của người bàochữa tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gan chặt với hoạt động tư pháp, bổ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của người bào chữa có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Cơ sở cho sự hiện diện của người bào chữa trong TTHS xuất phát từ hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa họ với người bị buộc tội (hoặc với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội) và phải được sự chấp thuận của cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong trường hợp đặc biệt do BLTTHS quy định, nếu người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thi các co quan tiễn hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ và di nhiên ngay trong trường hợp này sự tham gia của người bào chữa cũng phải được sự đồng ý của người bị buộc tội. Theo luật thực định có đề cập đến người bào chữa như sau: Người bào chữa có nghĩa là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo [25]. Một trong những lý do dẫn đến việc các tác giả đề xuất các khái niệm khác nhau về người bào chữa là vì BLTTHS năm 2003 không đưa ra khái niệm về người bào chữa. BLTTHS năm 2003 chỉ tập trung quy định về chủ thể, quyền và nghĩa vụ, việc lựa chọn và thay đôi người bào chữa trong Tố tụng hình sự.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS là nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Đây là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, diéu tra, fruy 16, xét xử có quyền tu bào chữa, nhờ luật su hoặc người khác bào chữa ” và là nguyên tắc đặc thù của luật tố tụng hình sự, được quy định tại Điều 11 BLTTHS năm 2003: “Người bi tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan diéu tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật nay”. Thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là điều kiện cần thiết để các cơ quan tiễn hành tố tụng xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Theo như quy định tại Điều 11 BLTTHS năm 2003 thì người bi tạm giữ, bi can, bi cáo có quyền tự mình bào chữa và trong trường hợp họ không tự mình bào chữa thì họ có thể nhờ người khác bào chữa. Theo đó, có thể hiểu người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp chứng nhận bào chữa, tham gia tố tụng dé đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bi can, bi cáo vô tội, những tinh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tam giữ, bi can, bi cáo và giúp đỡ người bị tam giữ, bị can, bi cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Khoản I Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có thê là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. Khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định những người không được bào chữa: “a) Người đã tiễn hành tô tụng trong đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tô tụng trong vụ án đó; b) Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch.
” Người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trao toàn bộ hoặc một phần quyền bào chữa của mình dé tham gia bảo vệ quyên lợi của họ. Vì vậy, người bao chữa do người bi tạm giữ, bi can, bi cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn; người bào chữa có thé bi thay đôi hoặc bị từ chối. Việc người bào chữa đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bào chữa cho họ không làm mat đi quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm người bào chữa trong TTHS như sau: Vgười bào chữa trong tô tụng hình sự là người tham gia tô tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trong phạm vi đề tài này, cần thiết phải xây dựng khái niệm người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Đề đưa ra khái niệm khái niệm người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trước hết cần xuất phát từ việc phân chia quá trình tố tụng để giải quyết vụ án hình sự thành các giai đoạn khác nhau. Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự có thê được định nghĩa là: Bước của quá trình tô tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thé tiễn hành tô tung có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt dau và thời điểm kết thúc dé giải quyết vụ án hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phan củng có pháp chế và trật tự pháp luật. Như vậy, khái niệm trên đây về giai đoạn tố tụng hình sự cho phép khang định rằng, bản chất pháp lý của một giai đoạn tố tụng hình sự, với tính chất là một bước của quá trình tiễn hành tố tụng hình sự nhất thiết phải được thể hiện bằng ba đặc điểm chung cơ bản mà bắt kỳ giai đoạn tố tụng hình sự nào cũng bắt buộc phải có: Một là, giai đoạn td tung hinh su phai giai quyét một nhiệm vụ nhất định của tố tụng hình sự tương ứng với mục đích của hoạt động tố tụng mà các chủ thé tiến hành tố tụng hướng tới.
Ví dụ: giai đoạn khởi tố vụ án có nhiệm vụ xác định một sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu của tội phạm dé ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Hai là, mỗi giai đoạn tố tụng mang đặc thù về chủ thể có thấm quyền tiến hành tố tụng. Ví dụ: Điều tra là một giai đoạn tố tụng hình sự chỉ có hai loại chủ thể tiến hành tố tụng là Cơ quan có thâm quyền điều tra trong đại đã số những trường hợp và Viện kiểm sát trong một số ít trường hợp. Ba là, mỗi giai đoạn tố tụng có đặc thù về hành vi tố tụng và hình thức văn bản tổ tụng để giải quyết nhiệm vụ tương ứng của giai đoạn đó.
Ví dụ: các hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố không thé hiện tính cưỡng chế nhưng hoạt động trong giai đoạn điều tra lại mang tính cưỡng chế cao.