Chương 1. Những vấn đề cơ bản về xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng. Quy định về xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÁC LẬP DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG 1.
Khái niệm di sản dùng vào việc thờ cúng, xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng 1. Khái niệm di sản dùng vào việc thờ cúng Thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp trong phong tục, tập quán của người Việt Nam từ lâu đời, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nhắc nhở con cháu phải luôn ghi nhớ, biết ơn tổ tiên là những người đã có công lao to lớn trong việc sinh thành, dưỡng dục nên mỗi người. Đồng thời, giáo dục thế hệ sau phải biết hiếu thảo, kính trọng đối với ông bà, cha mẹ. Ngày nay, trên tinh thần tôn trọng, bảo vệ các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của việc thờ cúng tổ tiên, pháp luật đã ghi nhận và điều chỉnh hoạt động này dưới hình thức hoạt động tín ngưỡng1.
Trong tín ngưỡng của người Việt Nam từ xa xưa, việc thờ cúng tổ tiên còn được gọi là “hương hỏa”. Theo Từ điển tiếng Việt, “hương hỏa là hương và đèn (“lửa”), chỉ việc thờ cúng tổ tiên”2. Các vật dụng dùng vào việc thờ cúng có thể thay đổi theo thời gian, tuy nhiên hai vật dụng đã xuất hiện từ thuở ban đầu, gắn liền mật thiết khi thực hành việc thờ cúng trong các gia đình dù giàu sang hay nghèo khó là lư hương và cặp chân đèn là bắt buộc, không thể thiếu. Thông qua việc thắp hương, đốt đèn và thực hiện các nghi lễ, người ta tin rằng linh hồn của người quá cố sẽ có khả năng lắng nghe được những điều khẩn cầu của người cúng bái.
Chính vì vậy, việc thờ cúng tổ tiên còn được gọi bằng tên gọi khác là “hương hỏa”. Mặt khác, hương hỏa không chỉ là thuật ngữ dùng để chỉ việc gọi tên các đồ vật mà còn bao hàm ý nghĩa con cháu tế tự tổ tiên hoặc để chỉ tài sản của một gia đình, dòng họ trao cho thế hệ sau duy trì và sinh lợi với mục đích gìn giữ việc thờ cúng ông bà, tổ tiên. Theo nghĩa này, hương hỏa là của cải gia tiên để lại, lấy hoa lợi dùng trong việc thờ phụng và cúng giỗ3. Thuật ngữ “hương hỏa” không chỉ được sử dụng trong đời sống hằng ngày mà sớm đã được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh cùng với các quan hệ thừa kế liên quan 1 Khoản 2, Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”.
2 Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 3 Toan Ánh (2001), Phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, tr 51. 10 đến loại di sản này.
Có thể nói, “đây là nét đặc thù trong pháp luật Việt Nam, điều mà không tìm thấy trong các nền luật pháp phương Tây, vốn xa lạ với đạo thờ phụng tổ tiên”4. Nhìn một cách tổng quát, hương hỏa vừa mang yếu tố tâm lý, tình cảm thể hiện sự kính trọng, biết ơn người đã khuất, mặt khác lại mang yếu tố pháp lý do liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu đối với di sản thừa kế. Dưới góc độ pháp lý, nhà làm luật không điều chỉnh các vấn đề mang tính hình thức, lễ nghi, cúng bái, … thuộc về yếu tố tâm lý, tình cảm mà chỉ quan tâm điều chỉnh đến các vấn đề liên quan đến di sản thừa kế, do đó hương hỏa được định nghĩa là “phần tài sản do người đã chết để lại dùng cho việc thờ cúng, chăm sóc phần mộ của người để lại hương hỏa và tổ tiên của người đó”5. Từ đây có thể thấy, pháp luật chỉ điều chỉnh hương hỏa đối với phần di sản do người chết để lại theo ý chí của họ đã định đoạt dùng vào việc thờ cúng, cũng như những vấn đề phát sinh liên quan đến phần di sản này.
Nếu tiếp tục sử dụng thuật ngữ hương hỏa trong pháp luật hiện đại thì không rõ nghĩa, không xác định chính xác đối tượng và phạm vi điều chỉnh đối loại di sản này. Do đó, thuật ngữ “di sản dùng vào việc thờ cúng” ra đời là sự kế thừa của thuật ngữ “hương hỏa” trong pháp luật các thời kỳ trước. Cũng cần lưu ý, bên cạnh hương hỏa, hậu điền và kỵ điền cũng là di sản dùng vào việc thờ cúng (DSDVVTC) trong luật tục, cổ luật và pháp luật thời kỳ cận đại ở nước ta6. Tuy nhiên, bản chất của hai loại di sản này không giống nhau và cũng không giống với hương hỏa.
Mặt khác, trong thực tiễn hương hỏa là hình thức di sản dùng vào mục đích thờ cúng tổ tiên phổ biến nhất. Do đó, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ giới hạn tập trung trình bày các vấn đề liên quan đến di sản hương hỏa. Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta điều chỉnh về lĩnh vực thừa kế, thuật ngữ “di sản dùng vào việc thờ cúng” xuất hiện lần đầu tiên trong Pháp lệnh Thừa kế (PLTK) năm 1990 và sau đó được tiếp tục được duy trì sử dụng trong quy định của BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và hiện nay là BLDS năm 2015. Mặc dù có quy định về quyền để lại DSDVVTC của người có tài sản, tuy nhiên các văn bản nêu trên đều không đưa ra khái niệm DSDVVTC.
4 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2017), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, tái bản lần thứ 1, Nxb. 5 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, tr. 6 Xem thêm: Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật dân sự, Nxb.
11 Theo Từ điển Luật học, di sản thừa kế “là tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế”7. Như vậy, di sản là toàn bộ các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người để lại di sản gồm: tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Di sản thừa kế cũng bao gồm các quyền tài sản do người chết để lại, đó chính là các quyền được phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi thường thiệt hại mà người để lại di sản đã tham gia trước lúc chết như: quyền đòi nợ; quyền đòi bồi thường thiệt hại; các quyền nhân thân gắn liền với tài sản của quyền tác giả, quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp; … Việc quy định quyền về tài sản do người chết để lại là di sản thừa kế góp phần bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường tinh thần trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự8. Bên cạnh các tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản, người có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng có quyền để lại di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai.
Hiểu một cách khái quát, thờ cúng là việc thực hiện các nghi lễ theo những quy tắc nhất định nhằm thể hiện sự tôn kính thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết. Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đối tượng được thờ cúng rất đa dạng nhưng tựu chung lại có thể quy về thành hai nhóm đối tượng chính, bao gồm: thiên thần và nhân thần. Thiên thần bao gồm các vị thần linh trong các tôn giáo và các vị thần linh theo niềm tin tín ngưỡng dân gian. Các vị thần này có khả năng ban phát những điều tốt lành, may mắn nhưng đồng thời cũng có khả năng giáng xuống những tai họa, đau khổ cho cuộc sống con người.
Nhân thần bao gồm các vị anh hùng có công với đất nước, làng xã hoặc những người có công sáng tạo ra những ngành nghề hay còn gọi là tổ nghiệp và cũng bao gồm các bậc gia tiên tiền tổ trong các gia đình, dòng tộc. Họ đều là những con người có thật, từng tồn tại trong lịch sử do có công trạng to lớn nên được suy tôn thành những bậc đáng kính và tôn thờ. Tuy nhiên như đã trình bày, DSDVVTC là khái niệm kế thừa từ khái niệm hương hỏa của luật tục và các quy định của cổ luật. Do đó, đối tượng chính được đề cập đến trong việc thờ cúng ở đây là tổ tiên, ông bà, cha mẹ của người để lại di sản và cũng bao gồm cả bản thân người để lại di sản.
7 Viện Khoa học pháp lý (2006), tlđd (5), tr. 8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 1, Đinh Văn Thanh và Nguyễn Minh Tuấn chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, tr. 12 Thờ cúng tổ tiên là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức hợp của ý thức về tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và nghi lễ thờ phụng9.
Theo đó, thờ cúng tổ tiên bao gồm hai yếu tố kết hợp và tác động qua lại lẫn nhau là “thờ” và “cúng” tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, yếu tố “thờ” là nội dung, bản chất bên trong của sự việc, một mặt thể hiện ý thức tôn thờ, kính trọng, tưởng nhớ, biết ơn tổ tiên, mặt khác thể hiện niềm tin vào đời sống bất diệt của linh hồn và tổ tiên trở nên có những quyền năng đặc biệt có thể che chở, phù hộ cho con cháu tránh khỏi những điều tai họa, những điều không may mắn và có khả năng ban sức mạnh, hạnh phúc, lợi lộc. Còn yếu tố “cúng” thể hiện mặt hình thức thông qua các lễ nghi biểu hiện dưới dạng cầu nguyện, khấn, vái, quỳ lạy, … Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ và được quy định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc. Như vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng là phần tài sản của người để lại di sản thừa kế dùng vào mục đích thờ cúng người đó và tổ tiên của họ.
Khái niệm xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng Trong khoa học pháp lý cũng như trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam không có khái niệm nào về xác lập DSDVVTC.