Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1.1 Cơ sở lý luận về truyền thông: 1.1 Khái niệm truyền thông: Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng. Trong tiếng Anh từ Communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông… Truyền thông là hoạt động gắn liền với sự phát triển của con người và xã hội loài người. Nhờ truyền thông, giao tiếp mà con người tự nhiên phát triển thành con người xã hội.
Ngay cả trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người sống trong các bộ lạc đã biết sử dụng truyền thông để thông báo cho nhau nơi săn bắt, cách thức săn bắn thú rừng. Về sau, con người còn biết tổ chức các trạm ngựa phục vụ việc thông tin, quy định việc đốt lửa, hun khói trên đỉnh núi, điểm cao để thông báo cho nhau về giặc ngoại xâm lấn chiếm bờ cõi. Người đi rừng đã từng biết bẻ lá, băm vào vỏ cây để đánh dấu đường đi, tránh lạc lối và thông báo cho nhau về nơi nguy hiểm. Nhờ truyền thông, dù bằng những tín hiệu đơn giản như trên, con người đã thông báo cho nhau về mục đích, phương pháp hành động, tạo nên sự thống nhất và tính hiệu quả cho hoạt động của mình.
Trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh cải tạo tự nhiên và xã hội, con người ngày càng tích lũy thêm được những kinh nghiệm, tăng thêm hiểu biết, làm cho nhu cầu truyền thông, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, hiểu biết xuất hiện và phát triển. Sự ra đời của tiếng nói và chữ viết là những nấc thang quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển của truyền thông. Cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ các phương thức truyền thông của loài người cũng phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại. Ngày nay, con người đã biết sử dụng những kỹ thuật công nghệ 7 tiên tiến để truyền thông như: truyền hình cáp, vệ tinh địa tĩnh, internet… Các phương tiện truyền thông trở thành một nhu cầu của đời sống, một công cụ bảo đảm cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, một phương tiện hữu hiệu để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau của con người, một nhịp cầu nối liền các dân tộc trên hành tinh chúng ta.
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về truyền thông. Gần đây, còn có một số quan niệm khác về truyền thông như: - Truyền thông là quá trình truyền thông tin có nghĩa giữa các cá nhân với nhau. - Truyền thông quá trình trong đó một cá nhân (người truyền tin) truyền những thông điệp với tư cách là những tác nhân kích thích (thường là những ký hiệu ngôn ngữ) để sửa đổi hành vi của những cá nhân khác (người nhận tin). - Truyền thông xảy ra khi thông tin được truyền từ nơi này đến nơi khác.
- Truyền thông không đơn thuần là sự truyền tải các thông điệp bằng ngôn ngữ xác định và có ý định trước mà nó bao gồm tất cả các quá trình trong đó con người gây ảnh hưởng, tác động đến người khác. - Truyền thông xảy ra khi người A truyền thông điệp B qua kênh C đến người D với hiệu quả E. Mỗi chữ cái ở vài phạm vi là chưa được biết và quá trình truyền thông có thể được giải thích với bất cứ chữ cái nào trong số này hay bất cứ một sự kết hợp nào. - Truyền thông (communication) là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt sự hiểu biết lẫn nhau, v.15] Tổng hợp từ một số quan niệm về truyền thông nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các cá nhân hay các nhóm người nhằm 8 đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi của con người.
Trong khái niệm trên về truyền thông, có hai khía cạnh cần lưu ý: Một là, truyền thông là hoạt động mang tính quá trình. Nghĩa là truyền thông không phải là một hoạt động nhất thời, gián đoạn mà mang tính liên tục. Nó không kết thúc sau khi truyền tải một nội dung thông tin nào đó, mà nó còn tiếp diễn sau đó. Đây là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin lẫn nhau giữa hai thực thể tham gia vào quá trình truyền thông.
Hai là, truyền thông phải đạt tới mục đích hiểu biết lẫn nhau, nhờ đó nó đem lại sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân, nhóm xã hội. Truyền thông có nhiều dạng thức hay loại hình. Tuỳ theo tiêu chí đặt ra mà người ta có các cách phân loại khác nhau: - Căn cứ vào kênh truyền tải thông điệp có truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp: + Truyền thông trực tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó có sự tiếp xúc mặt đối mặt giữa chủ thể và đối tượng truyền thông. Truyền thông trực tiếp có thể là truyền thông 1-1 (một người gặp gỡ trực tiếp một người khác để truyền thông); truyền thông 1-1 nhóm (một diễn giả thuyết trình với một nhóm công chúng, giảng viên giảng bài cho học sinh, sinh viên); truyền thông trong nhóm (thảo luận trong một nhóm nhỏ, hội thảo) hoặc giữa hai nhóm nhỏ với nhau.
+ Truyền thông gián tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó chủ thể truyền thông không tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt với đối tượng mà được thực hiện thông qua sự hỗ trợ của yếu tố trung gian, như con người hoặc các phương tiện truyền thông khác. Chẳng hạn, truyền thông nhờ sự hỗ trợ của internet như chat, chat voice, webcam, e-mail, forum… hoặc truyền thông qua các phương 9 tiện truyền thông đại chúng như báo in, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, các website, phim ảnh, panô, biểu ngữ, áp phích, tranh cổ động, v.2 Vai trò của truyền thông: PGS.TS Đinh Thị Thuý Hằng nhận định, trong tổ chức, truyền thông (bao gồm các hoạt động quan hệ công chúng cả bên trong và bên ngoài) có vai trò rất quan trọng, giúp quảng bá sự hiểu biết về tổ chức và các hoạt động của tổ chức đó, kể cả sản phẩm và dịch vụ cho nội bộ cơ quan lẫn công chúng. Truyền thông giúp khắc phục hiểu nhầm, định kiến trong công chúng đối với tổ chức, cơ quan, đưa ra các thông điệp rõ ràng nhanh chóng nhằm thay đổi tình thế bất lợi. Truyền thông giúp thu hút và giữ chân người tài, cũng như tạo cảm nhận về trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng qua các hoạt động như thể thao, từ thiện, gây quỹ… Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì và quảng bá thương hiệu cho tổ chức, cơ quan mà nó phục vụ.
Bàn về vai trò của hoạt động truyền thông tổ chức nói chung (bao gồm cả doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và cơ quan nhà nước), các học giả cho rằng truyền thông giúp chúng ta: Hoàn thành các nhiệm vụ liên quan đến các vị trí và trách nhiệm bán hàng, chăm sóc phục vụ và sản xuất cụ thể. Thích nghi với sự thay đổi qua sự sách tạo và thích ứng với cá nhân và tổ chức. Hoàn thành nhiệm vụ thông qua việc duy trì chính sách, thủ tục hoặc quy định hỗ trợ các hoạt động liên tục hàng ngày. Phát triển các mối quan hệ nơi “thông điệp của con người được hướng vào những người trong tổ chức của họ, thái độ, tinh thần, sự hài lòng và thoả mãn” [Goldhaber, 1990].
10 Phối hợp, lên kế hoạch và kiểm soát các hoạt động của tổ chức thông qua quản lý (Katz & Kahn, 1966; Redding, 1972; Thayer, 1968). Truyền thông tổ chức là cách thức tổ chức thể hiện, trình bày và tạo nên bầu không khí (climate) và văn hoá tổ chức - các thái độ, giá trị và mục tiêu đặc trưng cho tổ chức và các thành viên của nó. Từ góc độ thực tiễn có thể thấy, xét vai trò của truyền thông đối với tổ chức, có thể nói, truyền thông có mối liên hệ chặt chẽ với sự hình thành và phát triển tổ chức. Truyền thông thúc đẩy dòng chảy thông tin trong nội bộ tổ chức cũng quản lý thông tin từ tổ chức ra bên ngoài.
Truyền thông giúp kiến tạo nên văn hoá tổ chức, góp phần tạo nên một mạch máu thông tin lưu thông thông suốt và tích cực giúp khích lệ sự tham gia và tương tác của các thành viên trong tổ chức và giữa tổ chức với nhóm công chúng bên ngoài. Đối với doanh nghiệp, truyền thông không chỉ có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, mà còn góp phần xây dựng uy tín và thương hiệu giúp giảm thiểu rủi ro về danh tiếng cho doanh nghiệp. Đối với cơ quan nhà nước, truyền thông giúp đưa thông tin đến người dân về các chính sách kinh tế, văn hoá xã hội, luật pháp đến với dân chúng, thuyết phục công chúng thay đổi nhận thức và hành xử đúng pháp luận. Truyền thông giúp tạo ra một chính phủ minh bạch, một chính quyền dân chủ ở đó mọi chính sách pháp luật trước khi ban hành phải trải qua quá trình thăm dò ý kiến dư luận và cho phép sự phản biện công khai của người dân khi được ban hành để đạt được sự đồng thuận cao nhất trong xã hội.3 Mô hình truyền thông: Mô hình truyền thông là một dạng thức biểu hiện cụ thể, cô đúc lý thuyết truyền thông, phản ánh mối quan hệ của các yếu tố trong quá trình truyền thông.
11 Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự tuyến tính thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố tham dự chính sau đây: - Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Nguồn phát là một người, một nhóm người hay tổ chức, mang nội dung thông tin (thông điệp) trao đổi (hoặc với mục đích lan truyền) với người khác hay nhóm người khác. - Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật… được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó.
Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã.