MẪU 14/KHCN (Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /OD--DHQGHN ngày 24 tháng]0 năm 2014 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội) ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI BAO CAO TONG KET KET QUA THUC HIEN DE TAI KH&CN CAP DAI HQC QUOC GIA Tén dé tai: Nghiên cứu chế tạo thiết bị hỗ trợ giám sát, cảnh báo và kiểm soát độ mặn của nước sông phục vụ trong nông nghiệp, ứng phó biên đôi khí hậu Mã số đề tài: QG 21.31 Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Đình Tú Hà Nội, 2024 PHAN I. THONG TIN CHUNG 1. Tên đề tài: Nghiên cứu chế tạo thiết bị hỗ trợ giám sát, cảnh báo và kiểm soát độ mặn của nước sông phục vụ trong nông nghiệp, ứng phó biên đôi khí hậu 1.
Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài TT | Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài 1 [TS. Bui Dinh Tú Trường Dai học Công Chủ trì nghệ - ĐHQG HN 2 |Ths.NCS Nguyễn Dang Co |Trường Đại học Công Thư ký nghệ - ĐHQG HN 3 |Ths. Trần Văn Hiệp Trung tâm Công nghệ Thành viên Vị Điện tử và Tin học - Viện Ứng dụng Công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ 4 |PGS. Nguyễn Dinh Lam |Trường Đại học Công Thành viên nghệ - ĐHQG HN 5 |Ths/NCS.
Nguyễn Thị Dung |Trường Đại học Công Thành viên nghệ - ĐHQG HN 6 |Ths. Nguyễn Thanh Tùng Trường Đại học Công Kỹ thuật viên nghệ - ĐHQG HN 1. Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội 1. Thời gian thực hiện: 1.
Theo hợp đồng: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 4 năm 2023 1. Gia hạn (nếu có): đến tháng 4 năm 2024 1. Thực hiện thực tế: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 4 năm 2024 1. Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): Không (Vẻ mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý kiên của Cơ quan quản ly) 1.
Tống kinh phí được phê duyệt của đề tài: 400 triệu đồng. TONG QUAN KET QUÁ NGHIÊN CỨU 1. Đặt van dé Hàm lượng muối của sông, suối và vịnh ven biển có tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và môi trường sống động vật. Nếu như kiểm soát tốt nước nhiễm mặn vẫn có thể thành công với nền nông nghiệp dùng nước mặn, tuy nhiên việc này đòi hỏi cần phải được kiểm soát tốt nồng độ nước nhiễm mặn.
Chính vì vậy mục tiêu đề tài “Nghiên cứu chế tạo thiết bị giám sát, cảnh báo, kiểm soát hàm lượng mặn của sông phục 1 vụ trong nông nghiệp, ứng phó biến đổi khí hậu”. Dé tai bao gồm hai nội dung chính đó là AL? kết hợp giữa nghiên cứu cơ bản về vật liệu và thiết kế các mạch tích hợp để tạo ra một thiết bị hoàn chỉnh với việc giám sát độ mặn kết hợp giữa cảm biến chế tạo được và hệ thong loT cảnh báo thu thập dữ liệu bằng thiết bị di động. Trong phần cảm biến chúng tôi sẽ chế tạo cảm biến dựa trên mạch nguyên lý độ tự cảm (mạch RLC cộng hưởng) với việc nghiên cứu tìm kiếm tần số cộng hưởng tối ưu cho độ nhạy với nước mặn bằng việc nghiên cứu thay đổi thông số vật liệu của nhằm mục dich thay đổi điện dung tụ, tối ưu hóa cuộn dây phối hợp trở kháng. Phần mạch tích hợp sẽ thiết kế xử lý tín hiệu thu được và truyền đữ liệu trên ứng dụng web điện thoại (được nhóm nghiên cứu lập trình) dé theo doi độ mặn thay đổi dé đưa ra các cảnh báo.
Mục tiêu - Nghiên cứu chế tạo và tính chất của một số vật liệu có hang số điện môi, độ phân cực trong điện trường lớn. - Chế tạo bộ phận áp điện, tụ điện cho thiết bị cộng hưởng dựa trên vật liệu sắt điện Bio.5TiO3 (BNKT) không chứa chì. - Chế tạo cảm biến đo độ mặn dựa trên nguyên lý mạch cộng hưởng RLC (tần số dao động cộng hưởng dưới IMhz) với độ nhạy tương đương các thiết bị thương mại hiện có trên thị trường (độ mặn từ 0.0 ppt (g/l) với sai số + 0.5% giá trị - Chế tạo nguyên mẫu đề thử nghiệm tại hiện trường có tính năng cảnh báo và thu thập dữ liệu thời gian thực. Phương pháp nghiên cứu Chế tạo vật liệu sắt điện Bio.5T103 (BNKT)/Fe:O bằng các phương pháp Sol-gel và thủy nhiệt với các điều kiện môi trường thay đổi, vật liệu (CsHsCH2CH2NH3)2NiClh, viết tắt là PEA-NiCl:, đơn tinh thé perovskite.
Nghiên cứu các tính chất vật liệu. Khảo sát tính chất sắt điện bằng các đường đặc trưng P-E. Sử dụng các bộ tạo và thu dao động để tìm ra thông số cộng hưởng của mạch RLC. Chế tạo các cảm biến dạng cuộn dây với các thông số khác nhau, Sử dụng thiết bị đo RLC có tại phòng thí nghiệm của Khoa dé khảo sát độ tự cảm của cảm biến với sự thay đôi của nông độ các loại muối khác nhau dé từ đó tìm ra thông số tối ưu và xây dựng đường đặc trưng cho cảm biên Thiết kế mạch điện tử từ cung cấp tín hiệu đầu vào và nhận tín hiệu đầu ra.
Ngoài ra phần mềm thu tập tín hiệu cho cảm biến viết trên hệ điều hành Android cũng được tiễn hành đồng thời. Chế tạo nguyên mẫu từ thành công của các nội dung trên. Nguyên mẫu bao gồm mạch dao động RLC, module thu phát tín hiệu cho cảm biến. Bộ truyền dữ liệu không dây 2 cho điện thoại sử dụng SIM 3G/4G gửi phát dữ liệu thực.
Thử nghiệm hiệu chỉnh thông SỐ, chuẩn hóa thiết bị. Tổng kết kết quả nghiên cứu 4. Tổng quan lý thuyết cảm biến Độ mặn của nước biến là một yếu tố của phép đo thủy văn đại dương. Phép đo của nó đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động hàng hải nghiên cứu khoa học, phát triển và sử dụng tài nguyên biển và hệ thống định vị chính xác của tàu [1].
Độ mặn của nước biển ngoài việc đo trực tiếp từ sự phụ thuộc vào độ cảm như đã thông tin ở trên. Hiện nay, độ mặn của nước biển được đo chủ yếu bằng cách đo độ dẫn điện của nước biển rồi chuyên thành độ mặn thực tế. Cảm biến độ dẫn điện có những ưu điểm độ trễ thấp, độ 6n định cao, độ chính xác cao và đo lường thuận tiện. Cảm biến độ dẫn điện đã trở thành thiết bị chính trong phương pháp đo độ mặn trong nước biên [2] Theo cấu trúc cơ học khác nhau, cảm biến độ dẫn điện dùng dé đo nước biển có thể được chia thành cảm biến tiếp xúc và cảm biến không tiếp xúc.
Cảm biến độ dẫn tiếp xúc, chủ yêu là cảm biến độ dẫn nước biển loại điện cực, được sử dụng trong các phép đo độ dẫn điện của nước biên và có thé được chia thành cảm biến hai điện cực, bốn điện cực và sáu điện cực và các dang đa điện cực khác [1]. Cảm biến độ dẫn điện loại điện cực hoạt động dựa trên quá trình điện phân nước biển và dẫn điện, giữa các điện cực có một hệ thống điện hóa phức tạp. Một cặp điện cực giống nhau tạo ra nhằm phát hiện dòng điện và điện áp giữa các điện cực đo trong cấu trúc hai điện cực. Tỷ số điện áp và cuộn dây được sử dụng dé suy ra điện trở nước biển giữa hai điện cực dé thu được điện trở nước biển.
Tuy nhiên, phản ứng phân cực xảy ra giữa hai điện cực và điện trở của nước biên không thé được suy ra đơn giản từ tỷ số điện áp và dòng điện. Vì vậy, độ chính xác của độ dan dân đưa ra là kém chính xác. Đối với dạng nhiều điện cực như dạng bốn điện cực, hiệu ứng phân cực bị loại bỏ do dòng điện tối thiểu của các điện cực bên trong [3]. Chúng có khả năng chống chịu tốt hơn với ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến độ chính xác đo của cảm biến và có phạm vi đo cao hơn [4].
Tuy nhiên, đối với loại điện cực này, tác dụng hóa học vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn [5]. Cảm biến nhiều điện cực có thê cách ly cơ học các điện cực dòng điện và điện áp, không giống như cảm biến hai điện cực. Cảm biến nhiều điện cực có tác dụng che chắn tốt hơn, mang lại kết quả đo ít bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài và có độ chính xác đo tốt hơn. Tuy nhiên, sự phân cực của điện cực vẫn chưa được loại bỏ và các điện cực dé bị ăn mòn trong nước biên khi hoạt động lâu dài, dẫn đến độ chính xác của phép đo giảm.
Cảm biến độ dẫn điện của nước biển được ghép cảm ứng không tiếp xúc dựa trên nguyên lý cảm ứng điện từ. Một vòng gôm hai cuộn dây “nước biên” két hợp với nhau, sau 3 đó mối quan hệ tuyến tính giữa trở kháng của nước biển và suất điện động cảm ứng được rút ra từ nguyên lý tự cảm lẫn nhau sao cho độ dẫn điện của nước biển được xuất ra theo điện áp đầu ra [6]. Phần kim loại của cảm biến độ dẫn nước biển được ghép nối cảm ứng không tiếp xúc với nước biển và lớp vỏ phi kim loại không dễ bị ăn mòn. Đồng thời tránh được ảnh hưởng của hiệu ứng phân cực.
Cảm biến độ dẫn nước biển kết hợp cảm ứng không tiếp xúc cho thấy độ ôn định cao lâu dai, nhưng chúng dễ bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng lân cận. Do tính thấm từ của lõi cuộn cảm ứng và kích thích dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ nên độ tự cảm của cuộn cảm ứng và cuộn kích thích thay đổi dẫn đến sai số đo [7]. Ngoài ra, cảm biến ghép cảm ứng còn có nhược điểm là tín hiệu đầu ra yếu, độ nhạy thấp và hệ số nhiệt độ lớn. Năm 2007, Marin Soljacic và cộng sự.
lần đầu tiên đề xuất sử dụng cuộn dây cộng hưởng LC dé truyền năng lượng không dây ở mức năng lượng trung bình, từ đó đưa ra khái niệm cộng hưởng từ [8]. Nam 2014, Awai và cộng sự. đã tiễn hành một nghiên cứu có hệ thống về kha năng thâm nhập của hệ thống cộng hưởng từ trong nước biển. Họ đã phát hiện ra ảnh hưởng của nước biển ở các độ sâu khác nhau trong một thùng chứa có bán kính có định đến hệ số chất lượng của cuộn dây, tần số cộng hưởng và hiệu suất truyền tải của hệ thống.
Họ đề xuất sử dụng cuộn dây xoắn ốc hai lớp dé hạn chế sự phân bố điện trường và giảm ton thất dòng điện xoáy [9]. Năm 2016, Xiong và Dong đã thực hiện các phép đo độ dẫn điện trên dung dịch có cuộn dây thụ động LC.