Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài. 7 Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Trong chƣơng này tác giả sẽ trình bày tổng quát các lý thuyết về truyền thông, thƣơng hiệu, hình ảnh thƣơng hiệu, ý định hành vi, các công trình nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài có liên quan đến đề tài. Từ đó, tác giả đƣa ra mô hình nghiên cứu đề xuất, xây dựng các giả thuyết, tiến hành nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tác giả trình bày cụ thể phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài, tác giả cho thấy đƣợc phƣơng pháp nghiên cứu, cũng nhƣ các vấn đề cần thiết trong việc thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát và các bƣớc phân tích nhƣ: Thiết kế bảng hỏi, các bƣớc điều tra, thống kê mô tả dữ liệu và mô hình hồi quy.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Tác giả thực hiện phân tích thực nghiệm về mối quan hệ giữa truyền thông, hình ảnh thƣơng hiệu và ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân tại các NHTM trên địa bàn TP. Cụ thể, tác giả sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu sau khi phân tích số liệu bằng mô hình hồi quy tuyến tính SEM thông qua phần mềm SPSS 20 và AMOS 20. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tác giả dựa trên kết quả nghiên cứu tại chƣơng 4, đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân tại các NHTM trên địa bàn TP. Chƣơng 5, tác giả cũng trình bày những hạn chế của nghiên cứu và hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
Tóm tắt chƣơng 1 Nhƣ vậy, Chƣơng 1 tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, các vấn đề liên quan nhƣ: mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài cũng nhƣ cấu trúc của đề tài. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chƣơng 2, tác giả sẽ trình bày các khái niệm cơ bản về truyền thông, thƣơng hiệu, hình ảnh thƣơng hiệu, ý định hành vi, các mô hình lý thuyết về hành vi của ngƣời tiêu dùng; và hơn hết đó là các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến đề tài của tác giả nhằm làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu cho đề tài của tác giả. Tổng quan về truyền thông Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tƣởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, nhƣ ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phƣơng tiện khác nhƣ thông qua điện từ, hóa chất, hiện tƣợng vật lý và mùi vị. Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa 2 hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng) (Wiener & Norbert, 1948; Valenzuela & Scherba, 1992).
Truyền thông đòi hỏi phải có một ngƣời gửi, một tin nhắn, một phƣơng tiện truyển tải và ngƣời nhận, mặc dù ngƣời nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của ngƣời gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian. Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin đƣợc truyền tải. Quá trình giao tiếp đƣợc coi là hoàn thành khi ngƣời nhận hiểu thông điệp của ngƣời gửi (Wiener & Norbert, 1948; Valenzuela & Scherba, 1992). Các phƣơng thức truyền tin là những sự tác động lẫn nhau qua một trung gian giữa ít nhất hai tác nhân cùng chia sẻ một ký hiệu tin tức hoặc một quy tắc mang một ý nghĩa nào đó.
Truyền tin thƣờng đƣợc định nghĩa là “sự truyền đạt suy nghĩ, ý kiến hoặc thông tin qua lời nói, chữ viết hoặc dấu hiệu” (Wiener & Norbert, 1948; Valenzuela & Scherba, 1992). Theo đó, truyền thông có vai trò tạo nên sự khác biệt với các tổ chức khác, giúp thông báo đến các khách hàng tiềm năng nhận biết về sự tồn tại của sản phẩm, về 9 những đặc tính của nó và giúp khách hàng hiểu về những khía cạnh độc đáo của sản phẩm hoặc là những tính năng vƣợt trội so với đối thủ cạnh tranh Để thực hiện đƣợc các vai trò trên, truyền thông cũng cần có mục tiêu cụ thể. Mục tiêu cuối cùng của truyền thông marketing là gây ảnh hƣởng để khách hàng mua sắm, đƣợc thực hiện qua các bƣớc: Xây dựng sự nhận thức Cung cấp kiến thức Tạo ấn tƣợng tích cực Đạt đƣợc vị thế thuận lợi trong tâm trí khách hàng Tạo ra sự quan tâm mua hàng Thực hiện giao dịch 2. Tổng quan về thƣơng hiệu 2.
Khái niệm thƣơng hiệu Trƣớc thập niên 1980, khái niệm thƣơng hiệu hoàn toàn xa lạ với giới kinh doanh cũng nhƣ các chuyên gia thẩm định giá trị doanh nghiệp. Bƣớc sang thập niên 1980, sau hàng loạt cuộc sáp nhập, ngƣời ta bắt đầu nhận thức đƣợc thƣơng hiệu là một tài sản đáng giá (Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2015). Đã có rất nhiều định nghĩa về thƣơng hiệu: “Thƣơng hiệu là một cái tên, biểu tƣợng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm” (Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2015). Theo Kotler (1997), thƣơng hiệu có thể đƣợc hiểu nhƣ là tên gọi, thuật ngữ, biểu tƣợng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng đƣợc dùng để xác nhận sản phẩm của ngƣời bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Theo Amber và Style (1996), thƣơng hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thƣơng hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thƣơng hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng và nó chỉ là một thành phần của sản phẩm. Nhƣ vậy, các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thƣơng hiệu. Các thành phần của nhận diện thƣơng hiệu Theo Keller (2008), thƣơng hiệu bao gồm các thành phần nhận diện sau: - Tên: Dƣới góc độ xây dựng thƣơng hiệu, tên thƣơng hiệu là thành phần cơ bản vì nó thƣờng là yếu tố chính hoặc là liên hệ chính của sản phẩm một cách cô đọng và tinh tế.
Tên thƣơng hiệu là ấn tƣợng đầu tiên về một loại sản phẩm/dịch vụ trong nhận thức thƣơng hiệu của ngƣời tiêu dùng. - Logo – Biểu tƣợng: Là thành phần đồ họa của thƣơng hiệu góp phần quan trọng trong việc nhận thức của khách hàng về thƣơng hiệu. - URL (Uniform Resource Locator): Là định vị tài nguyên thống nhất hay định vị tài nguyên đồng dạng hay đơn giản là địa chỉ website. - Nhân vật: Là đại diện cho thƣơng hiệu, gây ấn tƣợng nhất định cho ngƣời tiêu dùng.
- Slogan – Khẩu hiệu: Là đoạn văn ngắn truyền đạt thông tin mô tả hoặc thuyết phục về thƣơng hiệu theo một cách nào đó. - Đoạn nhạc: Đƣợc viết riêng cho thƣơng hiệu, thƣờng do những soạn giả nổi tiếng thực hiện. Những đoạn nhạc thú vị này dễ đƣợc ngƣời tiêu dùng ghi nhớ bởi giai điệu và lời ca gắn với thƣơng hiệu. - Bao bì: Đƣợc coi là một trong những liên hệ mạnh nhất của thƣơng hiệu, trong đó hình thức của bao bì có tính quyết định, tiếp theo là màu sắc, kích thƣớc, công dụng đặc biệt của bao bì.
Khái niệm về hình ảnh thƣơng hiệu Hình ảnh thƣơng hiệu đề cập đến ấn tƣợng chung đƣợc tạo ra trong tâm trí khách hàng hoặc công chúng về một tổ chức cụ thể dựa trên các khía cạnh nhƣ tên tổ chức, sản phẩm/dịch vụ và sự tƣơng tác giữa tổ chức và khách hàng (Aydin & Ozer, 2005; Cameran & cộng sự, 2010; Martenson, 2007; Wang, 2010). Tƣơng tự, hình ảnh thƣơng hiệu liên quan đến mọi thứ mà mọi ngƣời liên kết với tổ chức (Hussain & cộng sự, 2015; Zameer & cộng sự, 2015). Nó liên quan đến nhận thức, suy luận và niềm tin mà mọi ngƣời biết về một tổ chức (Abd-El-Salam & cộng sự, 2013; Hu & cộng sự, 2009). Jha và cộng sự (2013) đề xuất rằng hình ảnh thƣơng hiệu không thể đƣợc chia sẻ nhất trí giữa các bên liên quan của tổ chức; ngụ ý rằng nó thay đổi theo 11 tính chất của các bên liên quan đến tổ chức.
Hình ảnh thƣơng hiệu có liên quan mạnh mẽ đến danh tiếng của tổ chức. Mặc dù các thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng thay thế cho nhau, hình ảnh của tổ chức là liên quan đến ngắn hạn trong khi danh tiếng của tổ chức là liên quan đến dài hạn (Martenson, 2007). Theo Kanning và Bergmann (2009), hình ảnh thƣơng hiệu bao gồm hai thành phần chính là chức năng và cảm xúc; trong đó, chức năng bao gồm các đặc điểm hữu hình có thể dễ dàng đo lƣờng và đánh giá; còn cảm xúc bao gồm niềm tin và cảm xúc (tình cảm) mà một cá nhân có đối với tổ chức. Ngoài lòng trung thành của khách hàng, chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, hình ảnh thƣơng hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công của bất kỳ tổ chức nào (Hu & cộng sự, 2009).
Nó đƣợc coi là một tài sản cho phép một tổ chức tạo sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Điều này dẫn đến việc tổ chức đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh (Abd-El-Salam & cộng sự, 2013). Jha và cộng sự (2013) đã khẳng định rằng cần phải tạo dựng hình ảnh thƣơng hiệu nếu tổ chức muốn thành công. Theo đó Makanyeza và Chikazhe (2017), hình ảnh thƣơng hiệu ngân hàng đó là sự định hƣớng, kế hoạch phát triển rõ ràng, có sự uy tín trong mắt khách hàng, có đạo đức khi làm ăn và giữ đƣợc niềm tin nơi khách hàng.
Tổng quan về ý định hành vi của ngƣời tiêu dùng 2. Khái niệm về ý định hành vi của ngƣời tiêu dùng Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức (Theo khoản 1, điều 3, Luật Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, 2010).Bennet (1988), hành vi của ngƣời tiêu dùng là những hành vi mà ngƣời tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ.