CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Ngân hàng thương mại (Commercial Bank) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ban hành ngày 16/6/2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận Peter Rose (1996) đã định nghĩa về NHTM như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả.
Nói cách khác tín dụng là sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ từ người cho vay sang người đi vay với những điều kiện nhất định được hai bên đồng ý. Trong nền kinh tế, nếu xem xét các đối tượng tham gia trong quan hệ tín dụng, tín dụng được phân loại gốm: Tín dụng ngân hàng; Tín dụng nhà nước và tín dụng thương mại. Trong phạm vi luận văn này, tác giả trình bày về tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chuyên nghiệp, hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú, phạm vi hoạt động rộng khắp tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy động vốn và cho vay bằng tiền.
Trong tín dụng ngân hàng, các chủ thể của nó được xác định một cách rõ ràng, trong đó ngân hàng vừa là người huy động vốn vừa là người cho vay, còn các doanh Luan van 7 nghiệp, các tổ chức kinh tế cá nhân vừa là người gửi vốn vào ngân hàng vừa là người đi vay. Tín dụng ngân hàng vừa là tín dụng mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn với họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa là tín dụng tiêu dùng, không gắn với họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vì vậy quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Vai trò của tín dụng ngân hàng. Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại có tác động và ảnh hưởng tích cực đến toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Đó chính là vai trò của tín dụng ngân hàng. Nói đến vai trò của tín dụng ngân hàng, là nói đến sự tác động của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế - xã hội. Vai trò đó của tín dụng ngân hàng thể hiện qua các nội dung như sau: Một là, Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển. Tín dụng ngân hàng trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, nhờ được cung vốn mà các doanh nghiệp có điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh.
Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng để tập trung vốn cho nền kinh tế, nhờ đó có thể đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp cá tổ chức kinh tế, từ đó làm gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng vừa là công cụ tập trung vốn cho toàn bộ nền kinh tế mà còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Có thể nói trong mọi hình thái của nền kinh tế - xã hội, tín dụng ngân hàng đều phát huy vai trò rất to lớn: - Đối với doanh nghiệp, tín dụng góp phần cung ứng vốn bao gồm vốn cố định, vốn lưu động, vốn thanh toán để phát triển hoạt động kinh doanh - Đối với dân chúng, tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. - Đối với xã hội, tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn.
Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế - xã hội khiến tạo ra động lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được. Luan van 8 Tín dụng ngân hàng có thể mở rộng cho mọi đối tượng trong xã hội; nó có thể xâm nhập vào các ngành, với nhiều lọai hình và quy mô họat động lớn, vừa và nhỏ; không những xâm nhập vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà còn xâm nhập vào nhiều lĩnh vực như dịch vụ, đời sống. Vì vậy có thể khẳng định vai trò to lớn của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội. Tín dụng ngân hàng không bị giới hạn về quy mô, có nghĩa là tín dụng ngân hàng có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế với số lượng rất lớn, với nhiều thời hạn khác nhau, nhờ đó giúp các donh nghiệp không những có vốn kinh doanh, mà còn có vốn để mở rộng đầu tư, đổi mới thiết bị, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, như vậy tín dụng ngân hàng có tác dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Hai là, Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định thị trường giá cả. Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh… làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước… Hoạt động của tín dụng ngân hàng còn có tác dụng và ảnh hưởng lớn đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước. Nhờ họat động của tín dụng ngân hàng mà vốn tiền tệ của xã hội được huy động và sử dụng tối đa cho nhu cầu phát triển kinh tế; nó vừa có tác dụng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, vừa làm cho các chu chuyển tiền tệ được tập trung phần lớn qua hệ thống ngân hàng.
Đó là những điều kiện quan trọng để ổn định lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả thị trường Ba là, Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống, tạo việc làm cho người lao động góp phần ổn định trật tự xã hội. Tín dụng ngân hàng là nguồn cung vốn lớn nhất của thị trường tài chính, do đó tín dụng ngân hàng không những thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, mà còn góp phần ổn định đời sống, tạo việc làm cho người lao động. Một mặt, do tín dụng ngân hàng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động, mặt khác, do vốn Luan van 9 tín dụng ngân hàng được cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội và tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất đai, rừng…thu hút nhiều lực lượng lao động, để tạo ra lực lượng sản xuất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn định ai cũng có công ăn việc làm là tiền đề quan trọng ổn định trật tự xã hội.
Bốn là, Tín dụng ngân hàng góp phần phát triển các mối quan hệ quốc tế. Có thể nói tín dụng ngân hàng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế. Sự phát triển của tín dụng ngân hàng không những ở trong phạm vi quốc nội mà còn mở rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu của nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển. Cần lưu ý là, bên cạnh những tác động tích cựu và có lợi cho nền kinh tế xã hội, tín dụng ngân hàng cũng có những mặt trái của nó, cần chủ động nhận diện để có biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả như: Tín dụng ngân hàng nếu phát triển với tốc độ quá cao và không được kiểm sóat chặt chẽ theo khuôn khổ pháp lý thì có thể dẫn đến những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ từ qui mô và phạm vi hẹp đến qui mô lớn trên phạm vi rộng gây hậu quả nặng nề cho nền kinh tế xã hội.
Với sự phát triển của tín dụng ngân hàng, theo hướng tập trung cho những nhóm khách hàng, những ngành nghề có tính độc quyền hoặc cạnh tranh cao, dẫn đến sự tập trung và sự phá sản, từ đó có thể làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. KHÁI NIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương Luan van 10 tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là khách hàng trong nền kinh tế.