PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề án Xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt, quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành và tổ chức triển khai thực hiện nhiều chính sách xóa đói, giảm nghèo nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu xóa đói giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Tân Lạc là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Hòa Bình, có đường giao thông nối với Quốc lộ 1A. Tân Lạc như cửa ngõ nối liền giữa miền Tây Bắc và Thủ đô Hà Nội. Địa phương có diện tích tự nhiên khoảng 52,3 km2, trong đó hơn 80% là rừng núi. Phía Đông giáp huyện Cao Phong, phía Bắc giáp huyện Đà Bắc, phía Tây giáp huyện Mai Châu, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Lạc Sơn và tỉnh Thanh Hóa.
Huyện Tân Lạc là một huyện miền núi có điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn. Kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Huyện có 16 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 01 thị trấn; tổng dân số trên 88.000 người, gồm 22 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Mường chiếm 85%, dân tộc Kinh chiếm 14,5%, còn lại là các dân tộc khác. Việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của huyện trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội nói chung, công tác xóa đói giảm nghèo nói riêng.
Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chính sách giảm nhèo giai đoạn 2016 - 2020, cuối năm 2020, theo kết quả rà soát, số hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm còn 2.440 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11,62%; 2.889 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 13,75%. Với sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng sự nỗ lực vươn lên của mỗi người dân, công cuộc giảm nghèo ở các xã của huyện Tân Lạc đã có những đổi thay rõ nét. Đời sống của những hộ nghèo trong huyện được cải thiện, số hộ thoát nghèo trong huyện ngày càng tăng và bền vững, góp phần tạo nên diện mạo 2 nông thôn mới đầy khởi sắc. Để tiếp tục cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân, huyện Tân Lạc đã xây dựng kế hoạch để thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo giai đoạn 2021 - 2025 phù hợp với tình hình thực tế của huyện.
Đến thời điểm hiện tại,mặc dù đã đạt được một số kết quả nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến những khó khăn tồn tại mà huyện đang gặp phải trong quá trình thực thi chính sách và giải pháp nào để giảm nghèo bền vững? Xuất phát từ các lý do trên, em đã chọn nghiên cứu đề án: "Thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình" nhằm làm rõ hơn thực tiễn về việc thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc từ đó đề xuất những giải pháp góp phần tăng cường việc thực thi giảm nghèo bền vững cho huyện trong thời gian tới. Mục tiêu của Đề án 2. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá tình hình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tân Lạc, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường việc thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững. - Đánh giá thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Tân Lạc. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi các chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc. - Đề xuất giải pháp tăng cường thực thi giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề án 3. Đối tượng nghiên cứu Các vấn đề liên quan đến thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa 3 bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Đánh giá việc thực thi chính sách giảm nghèo, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách giảm nghèo và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc. Trong phạm vi đề án này, tác giả tập trung vào các chính sách sau: Chính sách tín dụng ưu đãi, Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo, Chính sách hỗ trợ về y tế, Chính sách hỗ trợ về giải quyết việc làm, chính sách về nhà ở.
- Về không gian: Đề án được nghiên cứu trên địa bàn huyện Tân Lạc, trong đó tập trung tại 3 xã: Tử Nê, Ngọc Mỹ, Phú Cường. - Về thời gian: Số liệu thứ cấp của đề án được thu thập trong giai đoạn 2021 - 2023; Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra, khảo sát năm 11/2023 - 01/2024. Ý nghĩa lý luận Đề án hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững, trong đó làm rõ nội dung thực thi chính giảm nghèo bền vững, đồng thời cũng làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách giảm nghèo bền vững. Ý nghĩa thực tiễn Đề án nghiên cứu "Thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc" mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng, đề án đã đánh giá thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tân Lạc.
Từ đó đề xuất được các nhóm giải pháp góp phần tăng cường thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cho huyện Tân Lạc. Kết quả của đề án là tài liệu tham khảo cho các địa phương có điều kiện tương đồng. 4 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững 1.
Một số khái niệm liên quan * Nghèo Có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói. Mỗi quốc gia, mỗi xã hội ở từng thời điểm cũng có những nhìn nhận về nghèo đói theo cách phù hợp nhất với mình. Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP: United Nations Economic and Social Commision for Asia and Pacific) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 nhận định: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Quan niệm về nghèo như trên xuất phát từ việc tiếp cận thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh, nhà ở.; sự thiếu hụt một hoặc một số các nhu cầu đó được coi là nghèo.
Theo Tổ chức Liên hợp quốc: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 2008). Đây là một định nghĩa rộng lớn về nghèo, không chỉ tập trung vào mặt vật chất mà còn bao gồm các khía cạnh xã hội và tinh thần của nghèo.
Định nghĩa này nhấn mạnh rằng nghèo không chỉ là sự thiếu hụt về tài nguyên vật chất như thức ăn, nước sạch và chỗ ở, mà còn là sự thiếu hụt về quyền lợi, an toàn và tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục và y tế. Đồng thời, nó cũng nêu bật các vấn đề liên quan đến bạo lực, loại trừ và sự bất an mà 5 những người nghèo thường phải đối mặt. Từ những nhận định trên có thể thấy, đói nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống dưới mức sống tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc, sức khỏe và các nhu cầu khác như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường.
Mức sống tối thiểu của mỗi nước sẽ khác nhau tùy thuộc vào khí hậu, những đặc điểm tự nhiên, và một phần lớn là tùy thuộc vào mức độ văn minh đã đạt được của từng thời đại và của mỗi quốc gia. Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Căn cứ theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 thì khái niệm về cận nghèo được hiểu là: “Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực nông thôn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực thành thị”.
* Giảm nghèo bền vững Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nhưng mục tiêu của giảm nghèo bền vững là phải thoát nghèo (vượt chuẩn nghèo), không tái nghèo. Giảm nghèo bền vững đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước 2000.