Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP 1. Những vấn đề nghiên cứu liên quan đến định hướng nghề nghiệp 1. Những nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp trên thế giới Việc giáo dục hướng nghiệp xuất hiện khá sớm trên thế giới, ở nhiều nước Giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp giữ một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục. Hoạt động này được tích hợp trong nhiều môi trường giáo dục, chuyên nghiệp và xã hội.
Một số nước như Ðức, Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, Anh,. quyền bảo đảm tư vấn hướng nghiệp còn được khẳng định trong các bộ luật. Từ thế kỷ XIX, ở Pháp đã xuất hiện những phòng hướng nghiệp. Khách hàng chủ yếu là thanh niên đang lựa chọn nghề nghiệp.
Vào năm 1849, đã xuất hiện quyển sách với tựa đề: “Hướng dẫn chọn nghề”. Cuốn sách được xem là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp [5]. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển. Năm 1883 ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph.Ganton đã trình bày công trình thử nghiệm với mục đích lựa chọn nghề.
Trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.I Lênin các nhà giáo dục Liên xô như B.Ia Batưsep; X.APôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội, và nếu sớm thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội [5]. Đồng thời các tác giả này cũng đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường. Vào đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Bản thân thuật ngữ "Hướng nghiệp” là do giáo sư Frank Parson 6 Luan van thuộc đại học tổng hợp Garvared (Mỹ) vào năm 1908 đã tổ chức ở Boston lần đầu tiên ở Mỹ hội đồng nghề nghiệp giúp đỡ việc chọn nghề cho người lao động [5,tr.
Theo Frank Parson: “Một nghề được lựa chọn không phù hợp với năng khiếu, năng lực của người lao động là một nghề không có hiệu quả, không có động lực, không có sự thích thú khi làm việc và cũng là nghề nghiệp có thu nhập thấp, trong khi một nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở trường thì thường khuyến khích người ta thực hiện tốt yêu cầu công việc, các dịch vụ có hiệu quả và thu nhập cao”.[1] Năm 1922 Bộ Công nghiệp và thương nghiệp Pháp ban hành nghị định về công tác hướng nghiệp và thành lập Sở hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi. Năm 1938 công tác hướng nghiệp mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi. Ở Đức, năm 1925 - 1926 đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp đặc biệt, đã nghiên cứu gần 400.000 thanh niên trong một năm. Vào thời kỳ này, ở Anh đã thành lập được một hội đồng quốc gia đặc biệt nghiên cứu về vấn đề này.[4] Vào năm 1930, ở Matxcơva đã thành lập phòng thí nghiệm Trung ương về tư vấn nghề và lựa chọn nghề trực thuộc Trung ương đoàn thanh niên Cộng sản Lênin, trong đó phòng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiêu biểu của các cơ quan tư vấn nghề, đặc biệt là việc lựa chọn nghề của tuổi trẻ trong các trường phổ thông kỹ thuật.8] Vào những năm 1940, nhà tâm lý học người Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp.
Đó là một số nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới.[29] Trắc nghiệm định hướng nghề nghiệp của Holland: Bộ công cụ này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết do chính ông Holland dày công tìm hiểu. Lý thuyết này dựa trên 8 luận điểm, trong đó 2 luận điểm đầu là: Hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu người, 6 kiểu người đó là Realistic (xin tạm dịch - Người thực tế, viết tắt là R), Investigative (Người thích nghiên cứu – I), Artistic (Người có tính 7 Luan van nghệ sĩ –A), Social (Người có tính xã hội – S), Enterprising (Người dám nghĩ dám làm –E) và Conventional (Người công chức –C); có 6 môi trường hoạt động ứng đúng với 6 kiểu người kể trên. Lý thuyết này về sau lấy 6 chữ cái ghép lại thành tên Riasec.
Trên cơ sở lý thuyết này, John Holland đã xây dựng một bộ trắc nghiệm dành cho người muốn tự tìm hiểu mình. Qua nhiều năm phát triển, bộ trắc nghiệm này giúp cho người ta tự phát hiện được các kiểu người trội nhất đang tiềm ẩn trong con người mình để tự định hướng khi lựa chọn nghề. Định hướng nghề nghiệp luôn là một trong những chủ đề nóng bỏng và được chú ý nhất đối với các em học sinh và các bạn sinh viên. Hơn bao giờ hết, trong xã hội với tốc độ thay đổi nhanh chóng như hiện nay, nhu cầu xác định được một định hướng, một con đường tương lai phía trước của các bạn học sinh, sinh viên ngày càng tăng cao.
Bài trắc nghiệm của Holland được phát triển từ những năm 1950 và cho đến bây giờ vẫn là một trong những công cụ đáng tin cậy được sử dụng bởi rất nhiều trường Đại học nổi tiếng cho sinh viên của mình để xác định tính cách, sở thích, điểm mạnh của bản thân và con đường nghề nghiệp phù hợp với mình.[30] Bảng hứng thú nghề nghiệp QIP được xây dựng bởi S. Larcebeau vào năm 1967 dựa trên mô hình hứng thú của Kuder. Cho phép đánh giá hứng thú với 9 nhóm nghề, với mỗi nhóm chọn 10 nghề tiêu biểu.[10] Bước vào thế kỷ XXI, Mỹ đang có nhiều nỗ lực để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, tăng cường kết quả học tập của học sinh nhằm đảm bảo cung cấp một lực lượng lao động có trình độ, có khả năng cạnh tranh và thích ứng linh hoạt trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu,… Người ta đã đưa ra nhiều hướng giải quyết và đưa ra các nội dung cần tăng cường với chiến lược quan trọng, trong đó tăng cường mối liên hệ giữa các trường trung học với các doanh nghiệp theo hướng chuyển dần thành trường đào tạo nghề chuyên nghiệp. Một phần của chiến lược này là tạo điều kiện cho học sinh tham gia làm việc bán thời gian tại xí nghiệp.[3] Pháp là một trong những nước rất đề cao công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông và công việc này do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm, thuộc biên chế của Bộ giáo dục và làm việc tại các trung tâm độc lập với 8 Luan van các trường phổ thông.
Tại Pháp, phân biệt rõ 2 loại: định hướng học đường (orientation scolaire) thường dành cho học sinh phổ thông và thanh thiếu niên (dưới 25 tuổi) và định hướng nghề dành cho người trưởng thành đã đi làm. Pháp có 2 các đơn vị chuyên trách hướng nghiệp là trung tâm INETOP (Viện nghiên cứu quốc gia về lao động và hướng nghiệp), CNAM (Học viện quốc gia về nghệ thuật và nghề nghiệp).[32] Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hướng nghiệp, mở các trung tâm tư vấn hướng nghiệp và đào tạo giáo viên, chuyên gia tư vấn hướng nghiệp. Nhằm ngày càng cải thiện chất lượng giáo dục nghề nghiệp để phát huy các mặt tích cực của quá trình đào tạo đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Theo Tạp chí Tư vấn tâm lý, tháng tư năm 1997 có nghiên cứu về Yếu tố ảnh hưởng trong định hướng nghề nghiệp và khát vọng nghề nghiệp của các cô gái vị thành niên sớm.
Hai mô hình về sự phát triển sự nghiệp của các cô gái vị thành niên sớm được khảo sát. Đối với mỗi mô hình, cần tìm hiểu vai trò về giới tính của thanh thiếu niên và các mối quan hệ giữa mẹ và con gái; trong đó có tìm hiểu về đặc điểm của các bà mẹ. Định hướng nghề nghiệp (ở Mô hình 1) và nguyện vọng nghề nghiệp (ở Mô hình 2) là các kết quả cần khảo sát. Một mẫu gồm 276 cô gái được khảo sát là các học sinh nữ ở độ tuổi lớp 7 và lớp 8 ở khu vực nông thôn của một Bang miền Đông Nam và có sự tham gia của các bà mẹ.
Trong cả hai mô hình, đặc điểm về giới của thanh thiếu niên và đặc điểm của mẹ có vai trò đóng góp đáng kể vào thái độ lựa chọn nghề nghiệp của các cô gái vị thành niên. Ngoài ra, trong Mô hình 2, thanh thiếu niên và các mối quan hệ giữa mẹ và con gái góp phần ảnh hưởng lớn đến nguyện vọng nghề nghiệp của các cô gái. [20] Một nghiên cứu khác nói về Sự hài lòng trong công việc của chuyên gia Công nghệ Thông tin: Tác động của công tác định hướng nghề nghiệp và tự động hóa trong một môi trường có sự hỗ trợ của của công cụ kỹ thuật phần mềm. Nghiên cứu này khảo sát sự hài lòng trong công việc của chuyên gia công nghệ thông tin (CNTT), các chuyên gia trong môi trường mà có sự hỗ trợ của các 9 Luan van công cụ kỹ thuật phần mềm.
Mặc dù có sự suy thoái gần đây trong nền kinh tế có thể có tạm thời nới lỏng tình trạng thiếu lao động CNTT, các vấn đề về tuyển dụng và giữ chân nhân viên có trình độ là chìa khóa cho sự thành công của các dự án phát triển hệ thống thông tin (IS). Nghiên cứu này trình bày một mô hình của sự kết hợp của việc sử dụng công cụ kỹ thuật phần mềm và sự hài lòng trong công việc liên quan đến định hướng nghề nghiệp. Hai giả thuyết dựa trên mô hình này đã được thử nghiệm bằng cách sử dụng kết quả thực nghiệm thu thập thông qua phương pháp điều tra. Việc đầu tiên là xem xét liệu các định hướng nghề nghiệp của nhân viên IS ảnh hưởng như thế nào đến sự hài lòng trong công việc của họ.