CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Văn nghị luận xã hội và dạy học văn nghị luận xã hội trong nhà trường Về khái niệm, theo giáo trình Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi, “văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết (người nói) bằng cách dùng lý lẽ, dẫn chứng và cả những ý kiến bàn bạc mở rộng với một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục.” để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình và hành động theo những điều mà người viết (người nói) đề xuất [31]. Với đặc trưng lí thuyết thông qua tri thức khái niệm và quy tắc tư duy, văn nghị luận nói chung, nghị luận xã hội nói riêng có khả năng giáo dục tình cảm trí tuệ, nhận thức, suy nghĩ cho học sinh. Văn nghị luận góp phần nâng cao năng lực tư duy, trình độ vận dụng ngôn ngữ tổng hợp với các hình thức thuyết phục hấp dẫn cho HS, từ đó giúp HS hoàn thiện bản thân mình.
Văn nghị luận có thể rèn luyện cho học sinh những thao tác tư duy hài hoà giữa trí tuệ và tâm hồn, giữa tư tưởng, tình cảm và thói quen tốt trong làm việc khoa học như xây dựng đề cương, lập dàn ý, triển khai ý tưởng chặt chẽ, phong phú và diễn đạt sáng sủa, giản dị, hoàn chỉnh những vấn đề phức tạp. Về nội dung và cấu trúc, một bài văn nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ (bao gồm cả lý lẽ và dẫn chứng), lập luận (còn gọi là luận chứng, bằng chứng). Luận đề trong bài nghị luận là vấn đề bao trùm cần được làm sáng tỏ, cần được đem ra để bàn luận, để bảo vệ, để chứng minh trong toàn bộ bài viết. Chính vì thế, trong nhiều bài nghị luận, luận đề được thể hiện ngay ở nhan đề của bài viết.
Ví dụ: Nhan đề Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân Trung, SGK Ngữ văn 10 – Tập 2 – NXB Giáo dục Việt Nam). Luận điểm (còn gọi là ý lớn) là những ý kiến, quan điểm chính được nêu ra ở trong bài văn nghị luận. Luận điểm thường được thể hiện bằng một phán đoán (câu văn) mang ý nghĩa khẳng định những tính chất, những thuộc tính của vấn đề, những nội dung được triển khai để làm sáng tỏ cho luận đề. Các luận điểm trong bài nghị luận được sắp xếp, trình bày theo một hệ thống hợp lý, đầy đủ và được triển khai bằng những hệ thống luận cứ hợp lý để làm sáng tỏ vấn đề mà luận điểm đặt ra.
Ví dụ: Trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (SGK Ngữ văn 10 – Tập 2 – NXB Giáo dục Việt Nam), Thân Nhân Trung đã đưa ra những luận điểm sau: - Người hiền là nhân tố quyết định vận mệnh của đất nước. - Việc làm của các thánh đế minh vương đối với người hiền tài. - Ý nghĩa của việc dựng bia đá đề danh. Luận cứ là các lí lẽ, dẫn chứng (chứng cứ) cụ thể.
Muốn người đọc, người nghe tin theo mình, người nói, người viết bắt buộc phải cung cấp những dẫn chứng, ví dụ chi tiết, thiết thực. Dẫn chứng có thể là số liệu, là tài liệu được thừa nhận, là câu chuyện thực được kể lại. Lí lẽ là những đạo lí đã được mọi người thừa nhận. Chẳng hạn, với luận điểm đã nêu trong ví dụ ở trên “Việc làm của các thánh đế minh vương đối với người hiền tài”, tác giả đã đưa ra những luận cứ sau: - Bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí.
- Quý trọng yêu mến cho khoa danh, bổng lộc. - Nêu tên ở tháp Nhạn. - Dựng bia đá đề danh. Luận chứng (hay lập luận) là sự tổ chức các luận điểm và luận cứ, các lí lẽ và dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề để người đọc, người nghe hiểu, tin, đồng tình với điều mà người viết, người nói đặt ra và giải quyết.
Nghị luận là bàn luận, là nói lý nói lẽ, là thuyết phục người đọc bằng lập luận lôgic chặt chẽ. Cái hay, cái đẹp của bài văn nghị luận cũng là ở chỗ đó. Có luận điểm mới mẻ độc đáo là hết sức quan trọng, nhưng để bài văn có sức thuyết phục cao thì riêng luận điểm chưa đủ. Ở đây còn cần đến vai trò của lập luận.
Phải biết lập luận, tức là phải biết trình bày và triển khai luận điểm; biết nêu vấn đề và giải quyết vấn đề; biết dùng lý lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình. Luận điểm là nội dung còn lập luận là hình thức diễn đạt nội dung; lập luận là cách nói (viết)… Cùng một nội dung, cùng hướng tới một mục đích nhưng hai cách nói, hai cách trình bày khác nhau có thể dẫn đến hai kết cục khác xa nhau. Những bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bài văn hàm chứa trong đó những cách lập luận sắc sảo, mẫu mực. Trong văn nghị luận, để thuyết phục người đọc, người nghe, đòi hỏi người viết cần soi chiếu vấn đề từ nhiều góc độ, nói cách khác là phải đặt ra và trả lời rất nhiều câu hỏi về vấn đề đang bàn tới như: Là gì? Như thế nào? Tại sao? Có những khía cạnh gì? Có ý nghĩa, giá trị gì? Được biểu hiện như thế nào trong cuộc sống và trong văn chương?.Với mỗi góc độ soi chiếu, người tạo lập văn bản nghị luận cần thực hiện những thao tác nghị luận cụ thể như giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp,.với những cách trình bày như diễn dịch, quy nạp.
Giải thích một vấn đề là dùng lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa, giúp người đọc, người nghe hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó. Muốn giải thích rõ người viết, người nói cần biết nêu các câu hỏi như: là gì, như thế nào, tại sao, làm thế nào,.biết vận dụng các cách định nghĩa, cách nêu ví dụ. Chứng minh một vấn đề là dùng những lí lẽ và bằng chứng chân thưc đã được thừa nhận để làm sáng tỏ vấn đề đưa ra là đáng tin cậy. Phân tích là phép lập luận đem một sự vật, hiện tượng, khái niệm mà phân chia thành các bộ phận tạo thành rồi tìm ra các tính chất, đặc điểm bản chất của chúng cùng mối quan hệ qua lại của chúng với nhau.
Phân tích còn là chỉ ra các mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật kia, vạch ra nguyên nhân, hậu quả, chỉ ra mâu thuẫn với xu hướng vận động của nó. Để phân tích hiệu quả thì người viết. người nói cần phải dùng các biện pháp khác như so sánh, đối chiếu, suy luận để tìm ra ý nghĩa của các bộ phận, mối quan hệ giữa các bộ phận trong một tổng thể. Tổng hợp là một phương pháp tư duy ngược lại với phân tích.
Nó đem các bộ phận, các đặc điểm của một sự vật đã được phân tích riêng mà liên hệ lại với nhau để nêu ra nhận định chung về sự việc ấy. Các phép lập luận trên thường được triển khai theo hai hình thức diễn dịch và quy nạp, trong đó diễn dịch là đi từ những tiền đề chung mà đến những trường hợp cụ thể, còn quy nạp là xuất phát từ sự phân tích so sánh những sự việc cá biệt để đi đến khái quát chung. Tuy nhiên, một bài nghị luận không chỉ sử dụng thuần tuý một thao tác lập luận. Trong văn nghị luận, các thao tác trên không tách ra riêng rẽ mà luôn kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn.
Ví dụ, mô hình tổng-phân-hợp trong đoạn văn chính là sự kết hợp của diễn dịch và quy nạp, của phân tích và tổng hợp, trong đó người viết xuất phát từ những tiền đề đưa ra đã được chứng minh, giải thích, phân tích để rút ra những nhận xét, đánh giá khái quát về ý nghĩa giá trị của vấn đề. Về ngôn ngữ, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả, trần thuật kể lể sự việc mà chủ yếu dùng loại câu khẳng định và phủ định với nội dung hầu hết là các phán đoán hoặc những nhận xét, đánh giá sâu sắc. Do nhu cầu lập luận, văn nghị luận thường phải dùng đến hế thống từ lập luận. Hệ thống từ lập luận này có vai trò liên kết các ý, các vế, các đoạn nghị luận, tạo nên tính chặt chẽ trong lập luận.
Văn nghị luận nói chung là loại văn của tư duy khái niệm, của duy lí lôgic. Tuy nhiên, nó cũng cần hấp dẫn, lôi cuốn bằng từ ngữ có hình ảnh và có sức gợi cảm cao. Dạng văn nghị luận xã hội là một trong những dạng bài của văn nghị luận, đề cập đến các vấn đề xã hội được quan tâm rộng rãi, không đi vào những vấn đề, lĩnh vực quá chuyên sâu, nhằm tạo được sự hồi đáp tích cực, nhanh chóng từ phía người đọc, người nghe. Đề tài của văn nghị luận xã hội rất phong phú, thường được xếp vào hai nhóm chính: bàn về một một hiện tượng xã hội và bàn về một tư tưởng đạo lí.
Đáp ứng yêu cầu chung của một văn bản nghị luận, bài nghị luận xã hội cũng phải xác lập luận đề rõ ràng, triển khai bằng hệ thống luận điểm tường minh với lí lẽ thuyết phục và bằng chứng xác đáng; có lời văn chính xác, sinh động [ 12, tr.73] Văn nghị luận xã hội còn giúp rèn luyện phẩm chất, đạo đức con người. Từ việc đưa ra vấn đề bàn bạc, giải quyết sẽ đưa ra hai mặt trái - phải, tốt - xấu để học sinh nhận thức được những điều sai trái, không đúng đắn và đồng thời cũng học được cách sống tốt đẹp, hình thành nhân cách, phẩm chất cao đẹp. Khi bàn luận về các vấn đề tích cực trong cuộc sống, học sinh ý thức được việc cần phải học tập và làm theo để tu dưỡng đạo đức, ngược lại, đối với những vấn đề tiêu cực, độc hại thì học sinh nhận thức được cần đấu tranh bài trừ chúng khỏi xã hội. Việc viết văn nghị luận xã hội giúp cho học sinh hình thành tư duy khoa học, biết cách bày tỏ ý kiến quan điểm của bản thân một cách kiên định, sống theo chủ nghĩa tốt đẹp và phê phán những điều xấu xa.