Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. DH theo hướng hình thành và phát triển NL người học 1. Quan niệm về NL Đến nay, còn có những cách hiểu không như nhau về NL. Qua tham khảo một số tài liệu như [5],[6] chúng tôi thấy: Nhiều nước hiểu NL theo cách của Weinert (2001): NL thể hiện khả năng nhận thức và kĩ năng vốn có, hoặc học được, của cá nhân, nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng nhằm giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm.
Một số nước lại hiểu NL theo Nach Klieme (2003): NL thể hiện qua khả năng thực hiện thành công các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề, hay các tình huống nảy sinh, trên cơ sở vận dụng các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như động cơ, ý chí, quan niệm giá trị, suy nghĩ thấu đáo và sự sẵn sàng hành động. Theo đó, kiến thức và kĩ năng là nền tảng của NL. Theo [5] : Đến nay còn có nhiều cách hiểu chưa giống nhau về NL, nguyên nhân chính là do có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn, tiếp cận từ bình diện của tâm lí học, hay tiếp cận từ bình diện giáo dục nghề nghiệp,.
Sau đây là một số bình diện tiếp cận về NL. - NL xem như mục tiêu của DH, giáo dục. Theo cách hiểu này mục tiêu DH (mục tiêu bài học) phải hướng vào hình thành và phát triển được một số NL chung, cốt lõi, hay một số NL đặc thù môn học; các NL chung cùng với các NL đặc thù tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và DH; - Đề cập cấu trúc chung của NL. Theo đó: NL được xem là tổ hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ, sự quyết tâm,.; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tìm kiếm liên hệ giữa NL và nội dung DH.
Theo cách hiểu này trong mỗi môn học đều tiềm ẩn các cơ hội hình thành và phát triển NL cho người học. Vì thế, nếu khéo khai thác, những nội dung và hoạt động học tập cơ bản được liên kết với nhau nhằm hướng vào hình thành các NL chung, cốt lõi cần đạt; - Đề cập tới bình diện phát triển NL. Minh chứng cho mức độ phát triển NL có thể được mô tả qua các chuẩn thành tích. Theo đó, đến một thời điểm nhất định, học sinh có thể/cần phải đạt được những gì?, theo tiêu chí nào?.
- Đề cập tới bình diện phương pháp DH và đánh giá kết quả giáo dục. Theo đó, mục tiêu hình thành và phát triển được một số NL chung, cốt lõi sẽ định hướng cho việc: lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung, hoạt động DH; đánh giá mức độ tiến triển về NL của người học theo đường phát triển đã định; - Đề cập tới bình diện thực hành, ứng dụng, gắn với thực tiễn, liên môn. Theo đó, NL được thể hiện thông qua giải quyết những vấn đề nảy sinh, hay đòi hỏi vận dụng kiến thức trong các tình huống liên quan, gắn với thực tiễn, liên môn như: ước lượng, tính toán (khoảng cách, dung tích,.); vẽ hình biểu diễn; tìm phương án tối ưu;. Ta biết rằng, để con người thực hiện tốt nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của tư duy, cảm xúc, thái độ, kĩ năng,… Vì thế, có thể xem NL của một cá nhân như là tổ hợp của các khả năng giúp người đó hoàn thành công việc, trong những tình huống cụ thể, nảy sinh từ cuộc sống, hay học tập.
Từ đó, có thể xem NL là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống. NL cốt lõi đề cập đến những NL được coi là nền tảng, nhờ chúng người ta có thể thực hiện được yêu cầu công việc đặt ra, hay hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong các bối cảnh và tình huống khác nhau. Điểm qua như trên cho thấy NL có tính phức hợp hơn kĩ năng và mức độ thành thạo của một kĩ năng cũng có thể xem như thể hiện một phần mức độ cao hay thấp của NL tương ứng. Với mỗi ngành hoặc chuyên ngành cụ thể NL lại được định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn phù hợp với đặc thù.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của CHLB Đức, để áp dụng vào DH, bên cạnh việc hiểu những thuộc tính chung của NL thì cần nhất là phải xác định được NL đặc trưng của học sinh, bởi nếu xác định sai thì không tài gì có thể triển khai được (nếu không muốn nói là thất bại). Chẳng hạn, với con gà mái, sau khi ăn vào nó sẽ đẻ ra trứng, hay NL đặc thù của con gà mái là đẻ ra trứng, chứ không phải NL ăn vào, vì nhiều con vật đều có thể ăn vào, nhưng chưa chắc đã có thể đẻ ra quả trứng như gà mái. Đặc trưng của con gà mái là đẻ trứng Ở nước ta, các nhà tâm lí học cho rằng NL là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Họ cũng chia NL thành NL chung, cốt lõi và NL chuyên môn, trong đó, NL chung, cốt lõi là cần thiết, làm nền tảng để phát triển NL chuyên môn, còn NL chuyên môn đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ: NL toán học, NL ngôn ngữ,.
Tuy nhiên, theo cách hiểu này NL chung cốt lõi và NL chuyên môn không tách rời mà có quan hệ chặt chẽ với nhau. Như vậy, cho dù là khó để có được định nghĩa chính xác về NL, nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới cũng đã chỉ ra được những điểm chung, thống nhất rằng: NL được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Qua tham khảo một số tài liệu, theo cách hiểu thông thường, ở trường phổ thông thì: NL người học nói chung, NL của HS nói riêng, là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ có sẵn, hoặc ở dạng tiềm năng, để có thể học hỏi hoặc tổ chức, thực hiện thành công nhiệm vụ học tập đặt ra. Theo đó, NL của người học được biểu hiện qua hoạt động học tập, nhờ đó có thể quan sát được, đo lường và đánh giá được.
Và chỉ những NL có thể quan sát được, đo lường và đánh giá được mới được đề cập trong giáo dục nói chung, trong dạy học ở trường phổ thông nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo những gì vừa nêu trên cho thấy, cho dù tiếp cận theo cách này hay cách khác thì các nhà giáo dục trên thế giới đều thống nhất ở chỗ: - Nói đến NL là nói đến khả năng có thể để thực hiện, hoàn thành nhiệm vụ, của từng người, có tính cá nhân, vì thế, không nên so sánh NL của người này với NL của người kia, mặc dù có thể thấy được (xác định được) mức độ thấp nhất và mức độ cao nhất của từng NL đề cập. Chẳng hạn, nếu coi chạy 100m là một năng lực thì mỗi người có NL khác nhau thể hiện qua kết quả chạy: có người chạy 100m hết khoảng 10 giây, có người chạy 100m hết nhiều hơn 10 giây,. Tuy nhiên, ta không thể đồng nhất kết quả (hay không thể bắt buộc mọi người) phải 10 giây khi chạy 100m với tất cả mọi người.
- NL thường biểu hiện ra bên ngoài và ta có thể quan sát được, đánh giá được, thông qua từng mảng hoạt động, nhiệm vụ. Theo đó, xem như ta có thể mô tả được NL đề cập theo những tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và có thể tìm được minh chứng cho mức độ thể hiện này. Từ đó, với những NL, mà ta đề cập và mô tả được, đều có thể hình thành và phát triển, tuy nhiên, sự phát triển cao hay thấp, nhanh hay chậm, còn phụ thuộc vào từng cá nhân và thời gian, đủ để phát triển chúng. Ví dụ, nếu coi biết bơi là một năng lực thì để hiểu một người có NL bơi hay không ta phải quan sát khi họ ở nước (tức là khi họ hành động trong môi trường thật), chứ không có thể kết luận về NL biết bơi khi chỉ nhìn họ ở trên cạn.
Hơn nữa, năng lực bơi của các cá nhân khác nhau nhìn chung là không như nhau; việc học bơi và bơi được của các cá nhân khác nhau cũng không như nhau. Theo cách hiểu này, NL người học (là cái tiềm ẩn bên trong con người, không trực tiếp nhìn thấy được) có thể mô tả tương đương thành các biểu hiện, bên ngoài, (thông qua các nhiệm vụ, hoạt động), thành các thành tố (hay NL thành phần), mà ta có thể quan sát được, đánh giá được. Hơn nữa, ta có thể tìm được minh chứng cho mức độ cao hay thấp của NL, thông qua nội dung, nhiệm vụ. Vì thế, ta có thể đồng nhất NL với kết quả thực hiện công việc, hay nhiệm vụ, hay hoạt động đề cập.
Chúng tôi sẽ áp dụng cách hiểu này trong khi thực hiện đề tài luận văn này. Theo đó, ở trường phổ thông, để DH theo hướng hình thành và phát triển NL người học, trước hết chúng ta cần xác định và mô tả mỗi NL đề cập theo các tiêu chuẩn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay tiêu chí chất lượng. Tiếp theo, lựa chọn các minh chứng, là các kết quả hoạt động (hay kết quả thực hiện nhiệm vụ), tương thích với các tiêu chuẩn, tiêu chí đề cập đó. Dựa vào đó, chọn lựa các nội dung, kiến thức, tương thích với các hoạt động được cho là tương ứng với mức độ thành tích về NL đề ra.
Nội dung được chọn để DH có thể là những kiến thức đơn lẻ, mà cũng có thể là những kiến thức liên môn, tích hợp.