phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng l: Cơ sở lí luận về dạy học môn tiếng Anh theo mô hình học tập hợp tác nhóm ở trƣờng tiểu học Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo mô hình học tập hợp tác nhóm tại trƣờng tiểu học Võ Văn Hát, quận 9 Chƣơng 3: Vận dụng phƣơng pháp, kỹ thuật dạy học hợp tác nhóm trong dạy học tiếng Anh lớp 3 tại trƣờng TH Võ Văn Hát Kết luận kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 Luan van 10. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU Nội dung Thời gian Kết quả dự kiến đạt đƣợc Nhiệm vụ 1: Cơ sở lí luận về Cơ sở lí luận về dạy học dạy học môn tiếng Anh theo môn tiếng Anh theo mô mô hình học tập hợp tác nhóm Tháng 5/2020 hình học tập hợp tác nhóm ở trƣờng tiểu học ở trƣờng tiểu học Nhiệm vụ 2: Thực trạng hoạt Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh động dạy học môn tiếng theo mô hình học tập hợp tác Anh theo mô hình học tập Tháng 6/2020 nhóm ở trƣờng tiểu học Võ hợp tác nhóm ở trƣờng tiểu Văn Hát, quận 9 học Võ Văn Hát. Nhiệm vụ 3: Vận dụng Vận dụng phƣơng pháp, kỹ phƣơng pháp, kỹ thuật dạy học thuật dạy học hợp tác nhóm hợp tác nhóm trong dạy học Tháng 8/2020 trong dạy học tiếng Anh lớp tiếng Anh lớp 3 tại trƣờng TH 3 tại trƣờng TH Võ Văn Hát Võ Văn Hát Nộp luận văn Tháng 10/2020 Tổng thời gian 6 Tháng 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP HỢP TÁC NHÓM 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài DHHT không phải là một PP mới lạ, đó là một một tƣ tƣởng dạy học đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, dựa trên ý tƣởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt đƣợc mục đích cuối cùng. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên về dạy học hợp tác nhóm nhỏ của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc, tất cả đều mong muốn mang lại kết quả tích cực cho việc dạy học.
Flowerdew (1998) “A cultural perspective on group work” [29] cho rằng hoạt động theo nhóm thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngƣời học với nhau. Ông cũng chỉ ra rằng, học theo nhóm tạo một bầu không khi thân mật và nâng cao trách nhiệm của ngƣời học và tính tự quản. Việc học theo nhóm đã bắt đầu ít nhất từ năm 1867, khi nhà cải cách giáo dục tiên phong W. Harris đề xƣớng kế hoạch ở St.
Louis bang Missouri cho phép một nhóm học sinh học nhảy ở trình độ Tiểu học. Và cũng theo Kulik & Kulik (1982), thì kế hoạch của Harris là “gợi ý bước đầu về khả năng học nhóm” và ông cũng ghi nhận: “Ngày nay, hàng ngàn trường ở Mỹ đã theo mô hình học nhóm với trình độ tương đồng” [34, tr. Một trong những ngƣời đầu tiên thành công khi chủ trƣơng đƣa ý tƣởng hợp tác vào lớp học Colonel Francis Parker. Theo Francis Parker: “Các thúc đẩy mạnh mẽ việc học tập cũng như dạng hoạt động khác là tinh thần giúp đỡ lẫn nhau”.
Ông nhận thấy HHT trực tiếp liên quan đến tính dân chủ khi HS, có thể chia sẻ trách nhiệm với nhau trong học tập. Ông không tin, sự cạnh tranh trong trƣờng học sẽ đạt đƣợc hiểu quả cao hơn so với sự chia sẻ suy nghĩ thông tin về vấn đề học tập ở học 7 Luan van sinh. Các phƣơng pháp của Parker đều liên quan đến việc làm cách nào học sinh có thể hợp tác với nhau trong học tập. James Coleman (1959), ông nhận thấy tầm quan trọng của cách dạy học theo kiểu học hợp tác khi tiến hành nghiên cứu các hành vi của HS ở lứa tuổi thanh niên, ông đề xuất: thay việc thiết lập các tình huống khuyến khích cạnh tranh trong học tập, thì nhà giáo dục nên tạo ra các hoạt động để HS cùng nhau hợp tác.
Theo tài liệu “Learning together and Alone” (1991) [31], của hai tác giả Johnson D, & Johnson R, thì trong mỗi lớp học, giáo viên có thể xây dựng bài học sao cho học sinh làm việc một cách hợp tác trong các nhóm nhỏ, bảo đảm mọi thành viên đều nắm vững tài liệu đƣợc giao; gắn với một cuộc đua tranh thắng thua xem ai nhất; làm việc một cách độc lập với mục tiêu học tập riêng, với bƣớc đi và nhịp độ riêng nhằm đạt đƣợc các tiêu chí đặt ra từ trƣớc ở mức độ xuất sắc. Khái niệm học tập hợp tác chủ yếu bắt nguồn từ thuyết văn hóa xã hội của Vygotsky. Tác giả đề cao vai trò của hoạt động văn hóa – xã hội đối với việc học. Theo đó, ngƣời học không tự mình khám phá tri thức một cách đơn độc mà việc học phải là một sự hợp tác: hợp tác giữa HS với GV, giữa HS với HS khác.
Việc học hợp tác sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với việc tự mỗi cá nhân tự mò mẫm để chiếm lĩnh tri thức. Cũng theo Vygotsky (1978), “The development of higher psychological processes” [37] thì nếu hợp tác với ngƣời lớn hay bạn học có năng lực cao hơn thì HS sẽ dễ phát triển hơn. Vygotsky cũng cho rằng dạy học phải đi trƣớc sự phát triển và kéo theo sự phát triển. Lí thuyết về “vùng phát triển gần” của ông không chỉ có nhiệm vụ xác định mức độ phát triển hiện tại của ngƣời học mà còn cần xác định đƣợc vùng phát triển gần nhất tức tiềm năng phát triển của các em để từ đó xác định nội dung, cách thức dạy học phù hợp.
Chính lí thuyết về “vùng phát triển gần” của ông đã dẫn đến sự hình thành của một chiến thuật dạy học gọi scaffolding, theo đó, lúc đầu GV có thể cung cấp nhiều sự hỗ trợ cho HS nhƣng rồi khi HS ngày càng quen với việc học hơn thì GV sẽ rút dần các sự trợ giúp và tiến đến ngƣng hẳn các trợ giúp khi HS có thể tự học độc lập. 8 Luan van Trong nghiên cứu của D.Johnson, Yager và Snider qua đề tài “Social Interdependence Theoty and Coopertive Learning” về so sánh giữa HHT có tiến trình nhóm và HHT không có tiến trình nhóm và học tập mang tính chất cá nhân. Tác giả xác định rằng: những ngƣời tham gia trong nhóm HHT đạt đƣợc thành công học thuật cao hơn, ghi nhớ kiến thức đƣợc lâu hơn những ngƣời tham gia trong nhóm học không có tiến trình nhóm và học tập mang tính chất cá nhân.Johnson, Holubec (1994) trong cuốn sách của mình, có tựa đề “Cooperative Learning in The Classroom” [28] đã nhận định rằng: học tập hợp tác là toàn bộ những hoạt động học tập mà học sinh thực hiện cùng nhau trong các nhóm, trong hoặc ngoài phạm vi lớp học. Có 5 đặc điểm quan trọng mà mỗi giờ học hợp tác phải đảm bảo đƣợc: sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; ý thức trách nhiệm mỗi cá nhân; sự tác động qua lại; các năng lực xã hội và đánh giá nhóm.
Học tập hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn các hình thức giáo dục khác. Sự phản hồi cho toàn bộ lớp học trong việc thúc đẩy thành công học thuật; thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa các thành viên trong nhóm, giữa GV và HS và nâng cao niềm tin của HS trong lĩnh vực môn học. Theo nhà nghiên cứu Brown (1994) trong cuốn “An interactive approach to language teaching” [27] thì việc học theo nhóm mang lại những lợi ích nhƣ thúc đẩy việc sử dụng ngôn ngữ, tạo điều kiện cho ngƣời học chủ động giao tiếp trực tiếp với bạn cùng lớp, trao đổi ý kiến, và phân vai cho ngƣời học. Việc nghiên cứu dạy học hợp tác ở nƣớc ngoài khá phong phú, bao hàm các khía cạnh từ quan sát đến thực nghiệm, ở cả hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn.
Các nghiên cứu trên đã có tính ứng dụng thực tiễn, mang lại hiệu quả cao cho việc dạy học và góp phần tƣ duy nhận thức của con ngƣời.2 Những nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, những vấn đề liên quan đến đổi mới PPDH ngày càng đƣợc nghiên cứu, vận dụng rộng rãi trong các trƣờng ở nhiều cấp học, bậc học và hoạt động nhóm đã đƣợc áp dụng vào các lớp học tiếng Anh từ thập niên 1980. 9 Luan van Tác giả Nguyễn Hữu Hợp trong quyển “Lý luận dạy học Tiểu học” [12], tác giả đã cho rằng: đặc điểm nổi bật của dạy học theo nhóm là giáo viên tổ chức học sinh thành các nhóm nhỏ, giao cho các em nhiệm vụ học tập để học sinh cùng nhau thực hiện nhiệm vụ và từ đó lĩnh hội đƣợc nội dung bài học. Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam (2006) trong đề tài “Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn”, trƣờng Đại học Cần Thơ. Tác giả cho rằng: Học hợp tác là một hình thức tổ chức dạy học trong đó các nhóm HS cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do GV nêu ra, từ đó rút ra bài học dưới sự hướng dẫn của GV.
Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của mỗi HS vào quá trình học tập và sẽ tạo nên môi trường giao tiếp, hợp tác giữa trò-trò, thầy-trò, trong đó vai trò của mỗi HS gần như ngang nhau [21, tr. Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Trần Thị Thanh Huyền (2010) thuộc trƣờng Đại học Sƣ phạm TP.Hồ Chí Minh, với đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong dạy học hóa học lớp 11 – chương trình nâng cao ở trường THPT ” [16] đã tổng quan về dạy học hợp tác nhóm nhỏ, tìm hiểu thực trạng việc vận dụng dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong trƣờng THPT và vận dụng các cấu trúc hoạt động nhóm vào dạy học. Cùng với việc vận dụng vào từng dạng bài học cụ thể. Tác giả đã đúc kết nhiều kinh nghiệm bổ ích trong dạy học nhƣ: lựa chọn hình thức hoạt động, phân chia thời gian, phân tích các hoạt động, kĩ năng ở học sinh đạt đƣợc sau giờ học và những lƣu ý để việc vận dụng đƣợc thành công.
Tuy nhiên tác giả vẫn chƣa chú ý đến việc xác định nguyên tắc lựa chọn các nội dung phù hợp cho việc dạy học hợp tác nhóm nhỏ cũng nhƣ chƣa đƣa ra quy trình tổ chức dạy học cụ thể theo từng cấu trúc hoạt động nhóm.