Đặt vấn đề, để ngỏ Chọn tình huống xuất của giáo để học• sinh thực • phương pháp giải phát hay chấp nhận sự viên hiện lựa chọn của học sinh Hoạt động Hoạt động theo Tự tìm lấy con Xác định vấn đề trong của học hướng dẫn của đường đề giải tình huống, tìm lời giải sinh giáo viên để đạt theo con đường của mục • tiêu mình 12 Trong thực tế dạy học ờ trường phổ thông, chúng tôi thấy rằng, các câu hỏi cần được trả lời hay vấn đề cần được giải quyết thông thường bắt nguồn tù’ những tình huống trong tài liệu (SGK, sách chuyên khảo, .) hoặc từ giáo _ • /s nr _ 11 • _ z J 9 1 y • 1 _ _1 • Ạ 1 ________ ò _ 4- A viên. Trong khi, các câu tra lời cho câu hỏi hoặc chiên lược giải quyêt vân đê thường một là giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện, hoặc hai là học sinh tự tìm tỏi và được họp thức hóa bởi giáo viên. Căn cử vào việc học sinh nhận được ít hay nhiều sự hướng dẫn của giáo viên và mức độ áp dụng để phù hợp với nhận thức của học sinh, các mức độ dạy học khám phá được khái quát hóa bởi Sơ đồ Hình l. - Mức độ 1 (khám phá có trợ giúp toàn phần): là học sinh nhận được nhiều sự trợ giúp của giáo viên trong tiến trình giải quyết vấn đề.
Nói cách khác, giáo viên hỗ trợ học sinh xuyên suốt đế giúp học sinh tìm câu trả lời. Mức độ này được áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng học sinh nhất là học sinh có năng lực toán học từ mức trung bình trở xuống. - Mức độ 2 (khám phả có trợ giúp một phần): là học sinh nhận được một phần sự trợ giúp của giáo viên trong tiến trình giải quyết vấn đề. Mức độ này được áp dụng đối với đa số học sinh nhất là những người học có năng lực toán học ở mức trung bình và khá.
- Mức độ 3 (tự khám phả): là học sinh nhận được rất ít hoặc không nhận được sự trợ giúp của giáo viên trong tiến trình giải quyết vấn đề. Mức độ này được áp dụng đối với số ít học sinh - những người học có năng lực toán học ở mức giỏi trở lên. /"TtrX số k HS ^khamj)ha\^ s' Hharn pha Đa số HS / có trơ eiún môt nhần X, s' Khám phá X. Mọi đối tượng HS ________ cả im', giúp toàn phần_______ ^x __ Hình 1.
Tháp phân loại các kiêu dạy học khám phá 13 1. Các mô hình dạy học khám phá Tư tưởng chung nhất của tất cả các quan điểm về dạy học khám phá là sự nhấn mạnh rằng người học phải tự tìm ra hoặc phát hiện những điều cần được học. Từ đó, một vấn đề được đặt ra “Làm thế nào đê người học tìm ra những điều cần được học bởi chính họ?" Mô hình dạy học khám phá do Muhibbin (2010) đề xuất bao gồm 6 bước: (1) Tạo động cơ, (2) Xác định vấn đề, (3) Thu thập dữ liệu, (4) Xử lí dừ liệu, (5) Kiểm chứng và (6) Kết luận, khái quát hóa (Masfingatin & Murtafiah, 2020; Riandari et al., 2018; Suendartia, 2017) Riandari et al. (1) Tạo động Cữ: Giáo viên đưa câu hỏi hoặc vấn đề và yêu cầu học sinh đọc hoặc nghe nội dung câu hỏi.
(2) Xác định vẩn đề cần giải quyết: học sinh được tạo cơ hội để xác định các vấn đề và xây dựng dưới dạng một câu hỏi hoặc giả thuyết. (3) Thu thập dữ liệu: học sinh thu thập dữ liệu và thông tin cần thiết để trả lời một câu hỏi hoặc để chứng minh già thuyết. (4) Xử lí dữ liệu: Xử lí dữ liệu và thông tin sự kiện đã được học sinh thu thập và sau đó được giải thích. (5) Kiểm chứng: Kiểm tra các kết quả xử lí và các giả thuyết.
(6) Khái quát hóa: Trong giai đoạn cuối này, học sinh học để rút ra kết luận nhất định và nhũng khái quát hóa. Trong các bài báo Nguyễn Phú Lộc (1997, 2001, 2003, 2010, 2016), tác giả đã đề xuất các mô hình dạy học khám phá các tình huống điển hình trong dạy học môn toán bao gồm dạy học khám phá khái niệm và dạy học khám phá định lí. Dạy học khám phá khải niệm: dựa trên cơ sở bốn phương pháp quy nạp của J. Mill (1806-1873) nhằm xác định mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng tác giả đã đề nghị các mô hình dạy học khám phá khái niệm cùng với tên gọi tương ứng.
Cụ thể, các mô hình này là mô hình tương đồng - tìm kiếm, mô hình tương đồng - tìm đoán, mô hình cộng biến và mô hình dị biệt - tìm kiếm và mô hình dị biệt - tìm đoán (các mô hình này được khái quát lại 14 theo Hình 1. Tương đồng - tìm kiếm'. HS tự tìm kiếm các đặc Ví du 1 điêm chung.________________________________ Ví dụ♦ 2 Tương đằng - tìm đoán: HS dự đoán các tính chất Khái Quan chung với sự trợ giúp một phần cua GV (GV đưa quát Ví dụ 3 sát thêm các ví dụ có tính chât cân tìm: là phản ví dụ hóa dối với các du đoán sai cùa I ỈSk Cộng biến: HS phát hiện các nguyên nhân làm thay đôi hiện tượng cài đặt trong các ví dụ. Sơ đồ mô tả khái quát các mô hình dạy học khám phá (tương đồng, cộng biến) Ví dụ 1 Phản ví dụ.
ỉ - tìm kiêm: HS tự Dị*ế biệt • tìm kiêm các đặc • Ví dụ 2 diêm chung. Khái Quan Phán vi dụ quát sát r Ví dụ 3 Phan ví dụX Hình 1. Sơ đô mô tả khái quát lại các mô hình dạy học khám phá (dị biệt) Mô hình dạy học khám phá định lý: Hình 1. Mô hình dạy học khám phá định lí có khâu nêu giả thuyết (Nguyễn Phú Lộc, 2003) 1.
Vai trò của dạy học khám phá J. Bruner (1961) đã khẳng định bốn vai trò lớn cho việc sử dụng phương pháp này bao gồm: thúc đẩy khả năng tư duy, phát triến động lực (motivation) 15 bên trong hon là tác động bên ngoài (extrinsic reward), phát triên trí nhớ và học cách khám phá. Dạy học khám phá còn cho phép mỗi cá nhân riêng biệt cơ hội nhiều hơn và cho phép một sự đánh giá thông minh hơn những gì người học đang làm (Hedden, 1998). Ausubel (1961) lập luận cho một đánh giá công bằng cho các giá trị sư phạm của phương pháp dạy học truyền thống (học sinh chỉ tiếp nhận kiến thức từ giáo viên) và phương pháp thông qua khám phá để học tập.
Ông thừa nhận rằng phương pháp dạy học khám phá có thể được sử dụng một cách phù hợp với những uu điểm có thể cảm nhận khi nó được sử dụng như sau: Sự truyền tải kiến thức đến trẻ em thanh thiếu niên, những người đang ở giai đoạn hoạt động cụ thể trong quá trình phát triển nhận thức của Piaget tương đối ít được trang bị với các khái niệm cơ bản và thuật ngữ của một ngành nhất định; Sự đánh giá có ý nghĩa và sâu sắc về học tập của một khái niệm cụ thể hoặc tổng quát; Giải quyết vấn đề; Chuyển đổi học tập; Động lực thúc đẩy. Tương tự, Kagan (1966) đưa lập luận thể hiện sự thuyết phục đối với phương pháp dạy học khám phá. Ông vạch ra bốn lợi thế của việc học khám phá: (1) tạo ra sự kích thích và do đó tối đa hóa sự chú ý của học sinh trong suốt thời gian học, (2) các nồ lực trí tuệ cao hơn được yêu cầu trong khi học tập khám phá dẫn đến sự gia tăng giá trị của nhiệm vụ học tập, (3) làm tăng niềm tin, hy vọng của người học, cái mà người học cỏ thế giải quyết những vấn đề khác nhau một cách độc lập và (4) giúp học sinh không còn tư tưởng thụ động, lệ thuộc vào sự quan tâm của giáo viên, người học kiên quyết và tích cực hơn vì phương pháp khám phá đã cung cấp cho họ khả năng đó. Friedler et al.
(1990) hoạt động khám phá giúp người học phát triển các kĩ năng suy luận khoa học bao gồm: (a) xác định vấn đề, (b) hình thành giả thuyết, (c) xây dựng thực nghiệm, (d) quan sát, thu thập, phân tích và làm sáng tỏ dữ liệu, (e) vận dụng các kết quả và (f) tạo những dự đoán dựa vào các kết quả cơ bản của những thực nghiệm trước. Trong học tập toán học, Freudenthal (2002) tin rằng: “toán học học được nhờ khám phả lại (re invention) sẽ được hiểu tốt hơn và ghi nhớ dễ dàng hơn học được bằng cách ít tích cực hơn". Khám phá lại có hướng dẫn là một trong những nguyên tắc cơ 16 bản của giáo dục toán học, do đó người học toán nên được cho cơ hội đê trải nghiệm một quá trình tương tự như quá trình mà toán học được phát minh (Bakker, 2004; Gravemeijer, 1994). Các nghiên cứu của Murni et al.
(2017), Juandi &Priatna (2018), Siahaan (2017), Rambe et al. (2018), Batubara (2019), Utami et al. (2019) chỉ ra rằng tổ chức bằng dạy học khám phá có thể thay đổi niềm tin và thái độ giúp cho việc học tập của học sinh trở nên tích cực và có ý nghĩa hơn. ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học khám phá 1.
Ưu điểm Dạy học khám phá đã thể hiện được các điểm mạnh sau: - Là phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, người học là chủ thể của hoạt động học tập của mình. - Là phương pháp dạy học thúc đẩy việc phát triền tư duy, vì trong quá trình khám phá đòi hỏi người học phải đánh giá, phải có sự suy xét, phân tích, tổng hợp. - Phát triến động lực bên trong của người học, trong quá trình học tập, khám phá, khi đạt được một kết quả nào đó thì người học cảm thấy hứng thú, và sẽ thấy cỏ ham muốn hướng tới những việc làm khó hơn. - Người học học được cách khám phá và phát triền trí nhớ của bản thân, bởi trong khám phá, người học phải tự huy động kiến thức, kinh nghiệm của mình, liên hệ kiến thức đã có và các mối quan hệ với vấn đề cần tìm hiểu, do đó sẽ nhớ bài lâu hơn, thậm chí có thể tái hiện lại được kiến thức khi có những thông tin liên quan.
- Phương pháp học cho phép người học có thời gian tiếp thu cập nhật thông tin và đánh giá được khả năng thực sự của bản thân trong quá trình học tập và nghiên cứu. - Người học học được cách xử lý linh hoạt trước mọi tình huống đặt ra trong học tập và trong cuộc sống.