CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Việc tiếp cận năng lực của người học là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm phát triển tiềm năng của mọi người. Mỹ là một trong những nước sử dụng mô đun sớm nhất trong việc đào tạo công nhân của nước nhà, qua đó thuận tiện cho việc làm trong các dây chuyển ô tô của các hãng General Motor và Ford vào những năm hai mươi của thế kỷ 19.
Để đáp ứng yêu cầu sản xuất theo kiểu Taylor (vốn thống trị thời bấy giờ), công nhân được đào tạo với thời gian 2 - 3 ngày với những trang thiết bị phù hợp với công việc. Người học được học với nội dụng vừa đủ, phù hợp với công việc, và được làm quen với với mục tiêu công việc do chính công ty yêu cầu. Giáo dục dựa trên năng lực (Competency Based Education - CBE) nổi lên từ những năm 1970 ở Mỹ. Với hình thái này, giáo dục hướng tới việc đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc mỗi chương trình học [17].
Nếu giáo dục truyền thống được coi là giáo dục theo nội dung, kiến thức (Content-Based Education) tập trung vào việc tích lũy kiến thức, nhấn mạnh tới các kinh nghiệm nhận thức và việc vận dụng kiến thức tập trung vào việc thực hành kĩ năng chứ không hướng tới việc chứng minh khả năng đạt được, và đánh giá của giáo dục truyền thống. Từ đào tạo theo mô đun kỹ năng hành nghề (Modules of employable skills - MES) đến đào tạo theo mô đun năng lực thực hiện. Đề cương năm 1973 của tổ chức lao động thế giới ILO đã đề xuất phương thức đào tạo theo mô đun (MES = phương thức đào tạo nghề theo công việc / kỹ năng hành nghề) nên bị phê phán là hẹp, thiển cận không đủ đáp ứng về trình độ. Những yếu tố lý thuyết chỉ dừng ở mức thấp không đủ để đạt trình độ phân tích, hiểu và giải quyết vấn đề do vậy đề cương năm 1992 ra đời tính đến việc đào tạo theo năng lực và trình độ.
4 Cuối thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80 của thế kỉ 20 ở Mỹ và Canada, giáo dục đào tạo dựa trên năng lực năng lực thực hiện được ứng dụng rộng rãi trong dạy nghề. Bộ giáo dục Mỹ đã tiếp tục ủng hộ hoạt động của đào tạo dựa trên năng lực thực hiện thông qua việc thành lập tổ chức liên kết quốc gia của các trung tâm giáo dục dựa trên năng lực thực hiện. Cuối thập kỉ 80 của thế kỉ 20, ở Australia đã bắt đầu một cuộc cải cách đào tạo, thiết lập một hệ thống đào tạo dựa trên năng lực thực hiện, tạo ra phương pháp dựa trên năng lực thực hiện cho việc công nhận các kỹ năng của người nhập cư, thành lập Hội đồng Đào tạo Quốc gia để xúc tiến việc xây dựng tiêu chuẩn năng lực thực hiện ổn định trong toàn quốc “The process of learning” của Rudolf Tellfer (1987), “Beginning teaching” của K.King (1983) đang được sử dụng như là các giáo trình thực hành lý luận dạy học trong đào tạo giáo viên ở Australia. Về sau phương pháp này đã được phát triển rộng rãi ở Anh và một số nước Tây Âu vì tính thực tiễn cao, tiết kiệm thời gian và kinh phí đào tạo.
Todd xuất bản cuốn “Integrated information skills instruction: Does it make a difference” vào năm 1995. Ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tác dụng của giảng dạy tích hợp các kỹ năng thông tin với học sinh trung học Úc. Theo Ông, hướng dẫn tích hợp kỹ năng về thông tin có thể ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh và thái độ của họ ở trường học. Năm 2007, tác giả Pat Grant và Kathy Paige xuất bản cuốn “Curriculum integration: A trial”.
Nhiều nhà giáo dục khác trên thế giới đã viết về chương trình giảng dạy tích hợp như Beane (1995), Dufficy (2005), George (1996), Lake (2004) và Venville & Dawson (2004). Tuy nhiên, nghiên cứu kiểm tra tích hợp trong thực tế vẫn còn tương đối hiếm. [29] UNESCO và ILO là hai tổ chức quốc tế không chỉ tạo điều kiện mà còn khuyến khích cho việc phát triển các nhóm mô đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung. Tại Paris, các chuyên gia cho rằng: sử dụng mô đun “là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và trong 5 việc phổ biến kỹ thuật mới” và khuyến cáo các nước đang phát triển khi đầu tư tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm đến việc đào tạo trên, không nên “sa đà” vào việc tranh cãi, duy danh thuật ngữ mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm.
Tại Việt Nam Từ những thập niên 60, ngành giáo dục Việt Nam mang đậm bản chất của nền giáo dục thế giới cụ thể như: Tích cực chủ động sáng tạo, lấy người học làm trung tâm, tạo điều kiện cho người học tư duy sáng tạo, nêu và giải quyết vấn đề, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Năm 1996, tác giả Nguyễn Đức Trí đã nghiên cứu công trình “tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng theo tiêu chuẩn nghề, công trình này bước đầu đã làm sáng tỏ về mặt lý luận về phương thức đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực đồng thời chỉ ra các bước phát triển chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện và xây dựng kỹ năng nghề quốc gia.[17] Năm 2004, Nguyễn Ngọc Hùng đã nghiên cứu luận án tiến sỹ “Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện cho sinh viên sư phạm kỹ thuật”, trong luận án này tác giả phát triển lý luận dạy học thực hành theo tiếp cận năng lực thực hiện, rút ra khác biệt giữa đào tạo theo năng lực thực hiện với đào tạo truyền thống. Trong tài liệu “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” tác giả Nguyễn Minh Đường nêu lên vai trò của phương thức đào tạo theo năng lực thực hiện đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.[4] Ngày nay nói chung, đặc biệt là lĩnh vực dạy nghề nói riêng, chương trình dạy nghề được xây dựng dựa trên các mô đun tiếp cận năng lực trong đó tổ hợp các năng lực cần thiết (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà người lao động cần phải có để tham gia lao động sản xuất tại các nhà máy, khu chế xuất, các cơ sở sản xuất. Chương trình đào tạo được thiết kế theo mô đun tiếp cận năng lực như vậy còn được gọi là giáo dục định hướng kết quả đầu ra.
6 Hiện nay, mô hình năng lực cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm và được sử dụng trong những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực trong xu thế mở cửa hội nhập của đất nước. Xuất phát từ đó nhiều hội thảo lần lượt diễn ra như: Hội thảo về “Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề - kinh nghiệm của Bỉ và Việt Nam” được tổ chức hồi tháng 8 năm 2009 và các Hội thảo chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học trong lĩnh vực dạy nghề”, “chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề”, ngày 10/7/2009, tại TP. Đà Nẵng, Dự án VN 101, Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB-XH) - phối hợp với Hiệp hội thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở nước ngoài (APEFE) tổ chức Hội thảo “Tổ chức dạy nghề tích hợp - kinh nghiệm của Bỉ và Việt Nam”[5] Nhìn chung, tất cả việc nghiên cứu trên đi sâu vào tìm hiểu cơ sở lý luận dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, thực trạng dạy học tại các các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề và tiến hành dạy thực nghiệm. Qua đó, góp phần to lớn vào việc mở đường cho việc ứng dụng phương thức đào tạo theo mô đun và tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận năng lực ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu, vận dụng quan điểm dạy học theo hướng tíếp cận năng lực được phát triển mạnh ở giai đoạn sau này. Chính những vấn đề đó, trong đào tạo nghề nói riêng, giáo dục nghề nghiệp nói chung ở Việt Nam đang còn nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải nghiên cứu. Để triển khai đào tạo nghề theo năng lực thực hiện, từ năm 2008, Bộ LĐ-TB- XH đã quy định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề, chương trình khung trình độ cao đẳng nghề (Quyết định số 58/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 09/6/2008), trong đó quy định xây dựng chương trình theo phương pháp phân tích nghề và mô đun hóa nội dung của chương trình đào tạo; theo đó: Trong chương trình khung đào tạo nghề ngoài các mô đun năng lực thực hiện ký hiệu là MĐ, còn có các môn học được ký hiệu là MH, gồm các môn học chung, các môn học cơ bản, cơ sở ngành. Các môn học này giúp nguời học có các tri thức, kỹ năng nền tảng cho việc học tập các mô đun năng lực thực hiện.
Các mô đun năng lực thực hiện gồm có các mô đun bắt buộc và các mô đun tự chọn. Mỗi mô đun năng lực thực hiện gồm có các bài giảng lý thuyết, thực hành và bài kết hợp dạy lý thuyết với hướng dẫn thực hành. 7 Tổng cục Dạy nghề đã tổ chức nhiều tập huấn về biên soạn giáo án tích hợp và tổ chức dạy học tích hợp (văn bản số 1610 /TCDN-GV 2010, 2011) Một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng đã nghiên cứu và triển khai thử nghiệm đào tạo tích hợp và tổng kết những kinh nghiệm cho mình (ví dụ, trường Cao đẳng Giao thông vận tải 3, 2014) 1. Một số khái niệm 1.
Năng lực Theo từ điển Tiếng Việt, “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó”. Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002). [4] [5] Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001).
Theo Đặng Thành Hưng, có thể ở đâu đó khái niệm năng lực sẽ khác.