Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Trong xu thế đổi mới phương pháp giảng dạy đại học theo hướng lấy người học làm trung tâm, phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) đang được các nền giáo dục ở nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng. Phương pháp PBL xuất hiện lần đầu vào cuối những năm 1960 tại trường đại học Y khoa Mc.
Master, Canada, sau đó được phát triển nhanh chóng tại các trường đại học khác trên thế giới. Mặc dù ra đời đã lâu, phương pháp này vẫn thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu giáo dục như Barbara J. Tháng 6/2002, một hội thảo quốc tế riêng về PBL được tổ chức tại Baltimore, bang Maryland của Hoa Kì [37]. Tháng 03/2007, một hội thảo quốc tế tương tự được tổ chức tại Singapore.
Hiện nay nhiều trường đại học có riêng những trung tâm nghiên cứu triển khai phương pháp PBL hoặc tổ chức xây dựng ngân hàng vấn đề cho các chuyên ngành đào tạo của mình và chia sẻ trên các trang Web của họ, ví dụ như: Trường đại học Delaware - Hoa Kì: http://www.edu/pbl/ Trường đại học Samford - Anh: http://www.edu/ctls/problem_based_learning.html Trường đại học Sydney - Úc: http://www.au/learning/ipl/project/ipl_shared.shtml Ở các nước phát triển: Hoa kì, Anh, Úc. phương pháp này không chỉ áp dụng ở các trường đại học mà ngày nay nó còn được áp dụng rộng rãi ở các trường phổ thông và thu được những kết quả rất khả quan. Còn ở các nước Đông Nam Á, 5 phương pháp này cũng được một số cơ sở đào tạo quốc tế áp dụng như trường Đại học Walaik - Thái Lan, Yog Jakarta - Indonesia. Các nghiên cứu ở trong nước Thực trạng về công tác giảng dạy ở Việt Nam Sau nhiều năm cải cách giáo dục, thay đổi chương trình, chỉnh sửa nội dung giáo trình, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), nền giáo dục nước ta cũng thu được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên nội dung chương trình học vẫn còn mang nặng tính hàn lâm, kiến thức là mục tiêu cần đạt được để đảm bảo việc thi cử.
Chính sự nặng nề về nội dung chương trình, thi cử cũng đã gây áp lực cho việc đổi mới PPDH của các giảng viên khi tham gia giảng dạy. Để đảm bảo kịp chương trình, truyền tải một lượng kiến thức rất lớn trong một thời gian giới hạn để đáp ứng cho mục đích thi cử cuối năm thì hầu hết các giảng viên đều ngại khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại. Vì những phương pháp này đòi hỏi rất nhiều thời gian của cả giảng viên lẫn sinh viên. Hiện nay ở một số trường phương pháp dạy học truyền thống vẫn được áp dụng, chủ yếu là thuyết trình, diễn giảng, đàm thoại, nêu giải quyết vấn đề.Với phương pháp này thì cả lớp học sẽ cùng phải hướng tới một mục tiêu chung cuối cùng là kiến thức trong khuôn khổ chương trình học và kết quả học tập sẽ được đánh giá theo một khuôn mẫu định sẵn.
Với cách học như thế sinh viên chưa thể phát huy được sự đa dạng trong nhân cách cũng như các phong cách học tập. Trong những năm gần đây nền giáo dục ở nước ta liên tục đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới thực trạng giáo dục, đào tạo nhân lực phù hợp với các yêu cầu mới do đó nhiều PPDH mới được áp dụng, tuy nhiên chúng cũng chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm. Dạy học dựa trên vấn đề cũng đã bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam ở một số trường Đại học [3]. Tính khả thi của việc áp dụng phương pháp PBL tại Việt Nam.
Để có thể triển khai phương pháp PBL có hiệu quả, cần có các yếu tố then chốt sau: Năng lực của đội ngũ giảng viên, nguồn tư liệu giảng dạy - học tập và điều kiện tổ chức lớp học. 6 Về năng lực của đội ngũ giảng viên: Đội ngũ giảng viên cần đủ về số lượng và chất lượng để có thể phân công hướng dẫn các nhóm sinh viên, có kiến thức thực tiễn ngành nghề và sư phạm để thiết kế các vấn đề của môn học. Các trường Đại học sư phạm đang có những ưu tiên nhất định cho các sinh viên sư phạm để thu hút nguồn nhân lực cho giáo dục. Thế hệ sinh viên trẻ Việt Nam rất năng động và sáng tạo, có tinh thần học hỏi và phát huy những cái mới trong mọi lĩnh vực.
Về nguồn tư liệu giảng dạy - học tập: Phần lớn các trường hiện nay cũng đã bắt đầu được trang bị phương tiện, thiết bị thí nghiệm để phục vụ cho công tác giảng dạy. Sự phát triển nhanh chóng của các nguồn thông tin, của hệ thống internet tại Việt Nam, giảng viên và sinh viên Việt Nam về cơ bản có thể tìm thấy những tư liệu thích hợp cho việc ứng dụng của phương pháp dạy học này. Về điều kiện tổ chức lớp học: Phương pháp PBL có thể đạt hiệu quả cao ở những lớp học có qui mô nhỏ, có đủ điều kiện vật chất cho các hoạt động nhóm sinh viên. Trong điều kiện của Việt Nam, các lớp học thường có sĩ số sinh viên cao, vì vậy cần có sự tổ chức giảng dạy hợp lí.
Bên cạnh đó, cần có không gian thích hợp để các nhóm sinh viên có thể làm việc theo nhóm. Một số khái niệm 1. Vấn đề Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết (Hoàng Phê) [22]. Trong toán học, người ta hiểu vấn đề như sau: Vấn đề là khi người học chưa trả lời được câu hỏi hay chưa thực hiện được được hành động, cũng như chưa được học 1 quy luật có tính thuật giải nào để trả lời câu hỏi đó hay thực hiện được hành động đó.
Hiểu theo nghĩa trên thì vấn đề ở đây không có nghĩa là bài tập. Nếu bài tập chỉ yêu cầu người học áp dụng một quy tắc để giải thì không gọi là vấn đề. Chẳng hạn, yêu cầu học sinh tính diện tích hình chữ nhật với đầy đủ các yếu tố về độ dài sau khi đã biết công thức tính diện tích hình chữ nhật thì không gọi là vấn đề. Vấn đề chỉ có tính tương đối, ở thời điểm này thì nó là vấn đề, nhưng ở thời điểm khác thì nó không còn là vấn đề.
Ví dụ yêu cầu học sinh chia động từ ở thì hiện tại sẽ là 7 vấn đề đối với học sinh lớp 6, nhưng khi học xong bài này rồi thì chia động từ ở thì hiện tại không còn là vấn đề nữa. Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua. Một vấn đề được đặc trưng bởi ba phần: - Trạng thái xuất phát: không mong muốn. - Trạng thái đích: trạng thái mong muốn.
- Sự cản trở. Sự Trạng thái cản Trạng thái xuất phát trở đích Sơ đồ 1: Cấu trúc vấn đề Vấn đề khác với nhiệm vụ thông thường ở chỗ khi giải quyết một nhiệm vụ thì đã có sẵn trình tự và cách giải quyết, cũng như những kiến thức kỹ năng đã có đủ để giải quyết nhiệm vụ đó. Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết cách nào, chưa đủ phương tiện (kỹ năng, tri thức…) để giải quyết. Vấn đề học tập Vấn đề học tập là vấn đề tạo nên những bức xúc cho người học, trong quá trình học tập sinh viên thường gặp phải những vấn đề gây mâu thuẫn trong nội dung học tập để tạo ra các vấn đề học tập, mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, mâu thuẫn giữa những vấn đề biết và chưa biết, mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tiễn… Giảng viên là người khai thác các mâu thuẫn trong vấn đề học tập để tạo hứng thú cho sinh viên, thúc đẩy suy nghĩ tích cực để sinh viên tìm ra câu trả lời.
Các câu trả lời có thể là đúng hoặc sai, điều này không quan trọng, mà quan trọng 8 hơn cả là sinh viên đã học được cách tư duy trong những vấn đề cần giải quyết, và trong quá trình tư duy, tìm tòi sinh viên sẽ lĩnh hội thêm được nhiều kiến thức, tạo được niềm yêu thích, hứng thú trong quá trình học tập của mình. Vấn đề học tập là một trong những biểu đạt nội dung học tập, có tính chất tiềm ẩn (chưa hoàn toàn rõ rệt và công khai) đòi hỏi người học phải tiến hành nhận thức và hành động theo lối tìm tòi, suy nghĩ mới xác định được cách giải quyết vấn đề và từ kết quả của việc giải quyết vấn đề người học mới lĩnh hội được nội dung học tập ẩn chứa phía sau vấn đề.TS Đặng Thành Hưng) [18]. Dạy học dựa trên vấn đề Theo một số tác giả, dạy học dựa trên vấn đề (PBL) được hiểu như sau: “PBL là bất kì môi trường học tập nào mà vấn đề đặt ra sẽ điều khiển quá trình học tập. Như vậy một vấn đề nào đó sẽ được giao cho người học trước khi họ được học các kiến thức, vấn đề đặt ra sao cho người học khám phá rằng họ cần phải học một số kiến thức nào đó trước khi họ có thể giải quyết vấn đề”- Don Woods [40].
“PBL là một ví dụ về mô hình người học là trung tâm của việc học và dạy. Đó là phương pháp học tập dựa trên nguyên tắc sử dụng các vấn đề như là khởi điếm cho việc tiếp thu và tích hợp kiến thức mới” - H. “PBL vừa là chương trình, vừa là qúa trình. Chương trình bao gồm những vấn đề được lựa chọn kĩ càng, đòi hỏi người học trong quá trình học phải tích lũy kiến thức then chốt.
Quá trình là sự rèn luyện các kĩ năng giải quyết vấn đề thành thạo, phương pháp tự học, kĩ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện trong những quá trình, những phương pháp được sử dụng phổ biến trong cuộc sống, trong giải quyết vấn đề” - Barrows và Kelson [39]. Từ những định nghĩa đã tham khảo, PBL có thể được hiểu là phương pháp hướng dẫn sinh viên cách tự học, cách hợp tác với các thành viên trong nhóm để tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thực trong cuộc sống, đồng thời liên quan đến chương trình học.