MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, một làn sóng cải cách giáo dục lớn đang càn quét cả thế giới. Tốc độ tiến bộ trong công nghệ và khoa học đã vƣợt qua khả năng của giáo dục truyền thống, và thế giới giờ đang gấp rút bắt kịp. Các bộ môn khoa học có một mối liên quan mật thiết trong cuộc sống hàng ngày, chƣa bao giờ đƣợc quan tâm nhƣ bây giờ. Ngoài ra, những khám phá khoa học mới đƣợc tìm ra hàng ngày và các vấn đề tự nhiên xuất hiện trên khắp thế giới, làm tăng nhu cầu của giáo dục đối với ngành khoa học nhằm tìm hiểu và chinh phục những vấn đề này.
Nhiều nghiên cứu đã xác nhận hiệu quả và lợi ch của DHDA trong cả khoa học nói chung và sinh học nói riêng. Tuy nhiên, phần đa các nghiên cứu trong tài liệu tập trung vào các vấn đề lý thuyết trong việc thực hiện DHDA. Nói cách khác, các nghiên cứu về DHDA tập trung vào cách thực hiện các ứng dụng của DHDA. Nhƣng chúng ta lại không có đủ nghiên cứu điều tra tác động của DHDA đối với các kết quả học tập khác nhau trong bối cảnh lớp học thực tế khác nhau.
Hơn nữa, ngƣời ta biết rất t về cách DHDA ảnh hƣởng đến kết quả học tập của học sinh trong các chủ đề sinh học và không thể có bất kỳ nghiên cứu nào đƣợc tìm thấy trong chủ đề sinh trƣởng và phát triển của sinh vật. Do vấn đề này là rất cần thiết, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tìm hiểu về nh ng ảnh hƣởng của phƣơng pháp dạy học theo dự án để học chƣơng III. Sinh trƣởng và phát triển - Sinh học 11. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục đích nghiên cứu Vận dụng phƣơng pháp dạy học theo dự án để phát triển năng lực cho học sinh lớp 11 trong chƣơng III - Sinh trƣởng và Phát triển, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức môn học. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở l luận của phƣơng pháp dạy học theo dự án. - Nghiên cứu cơ sở lý luận của năng lực tự học - Tìm hiểu thực trạng việc dạy học sinh học ở trung học phổ thông đặc biệt là chƣơng III - Sinh trƣởng và Phát triển, Sinh học 11. - Phân t ch cấu trúc và nội dung sách giáo khoa sinh học 11.
- Đề xuất một số nội dung thuộc Chƣơng III - Sinh trƣởng và Phát triển có thể dạy học theo dự án - Đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo dự án chƣơng III- Sinh trƣởng và phát triển, Sinh học 11. - Xây dựng các dự án dạy học trong chƣơng III- Sinh trƣởng và phát triển. - Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm nhằm đánh giá t nh khả thi và hiệu quả của các dự án và quy trình đã đề xuất - Đề xuất một số phƣơng pháp để nâng cao hiệu quả dạy học theo dự án 3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu [4] - Nội dung kiến thức chƣơng III - Sinh trƣởng và phát triển, Sinh học 11 - Phƣơng pháp dạy học theo dự án 3. Khách thể nghiên cứu - Quá trình dạy học Chƣơng III - Sinh trƣởng và Phát triển, Sinh học 11 4. Mẫu khảo sát - 200 học sinh, 30 giáo viên. Giả thuyết nghiên cứu Nếu có biện pháp sử dụng hợp l phƣơng pháp dạy học theo dự án để hƣớng dẫn HS học chƣơng III – Sinh trƣởng và phát triển, Sinh học 11THPT sẽ phát triển đƣợc năng lực của học sinh, nâng cao hiệu quả việc dạy và học.
Phƣơng pháp nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết - Nghiên cứu các tài liệu về PPDH theo hƣớng t ch cực hóa hoạt động ngƣời học. - Nghiên cứu về các tài liệu l luận xây dựng và sử dụng dạy học theo dự án. - Nghiên cứu cấu trúc và nội dung chƣơng trình Sinh học 11 - THPT, đặc biệt là “ Chƣơng III- Sinh trƣởng và Phát triển”, cùng nghiên cứu tài liệu chuyên môn khác về Sinh học Phát triển để xác định biện pháp sử dụng câu hỏi, bài tập có hiệu quả.
Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm - Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phƣơng pháp học tập môn sinh học 11 của HS THPT - Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra kết quả tự học SGK của HS. - Quan sát sƣ phạm để kiểm tra hứng thú, mức độ t ch cực học tập của HS [9] 6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Tổ chức TN sƣ phạm nhằm đánh giá hiệu quả và t nh khả thi của đề tài - Phƣơng pháp thực nghiệm: [8] + Phối hợp với một số GV THPT có kinh nghiệm, thống nhất nội dung, phƣơng pháp, hệ thống CH, BT đƣa vào quá trình DH thực nghiệm ở THPT. + Các lớp TN và ĐC đƣợc chọn có trình độ tƣơng đƣơng dựa trên kết quả học tập trƣớc đó.
Các lớp TN và ĐC đƣợc bố tr nhƣ sau: Chọn trƣờng: Trƣờng thực nghiệm : Trƣờng THPT Khoa học giáo dục - Đại học Giáo dục -ĐHQGHN Trƣờng điều tra : Trƣờng THPT chuyên Nguyễn Huệ, THPT chuyên Khoa học Tự nhiên Chọn 6 lớp: 2 lớp ĐC, 2 lớp TN. 3 + Các lớp ĐC đƣợc dạy theo phƣơng pháp mà thực tế GV đang sử dụng. + Các lớp TN đƣợc dạy theo phƣơng pháp sử dụng phƣơng pháp dạy học theo dự án. Phương pháp xử lí số liệu: * Phân tích, đánh giá định lƣợng các bài kiểm tra Chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu đƣợc từ các bài kiểm tra để đánh giá ch nh xác nhất kết quả thu đƣợc và có cái nhìn đúng đắn về phƣơng pháp thực nghiệm.
Cấu trúc luận văn Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Thiết kế và tổ chức thực hiện dự án trong dạy học chƣơng III - Sinh trƣởng và phát triển, sinh học 11, Trung học phổ thông. Thực nghiệm sƣ phạm 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Nghiên cứu về dạy học dự án 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử trên thế giới Khổng Tử và Aristotle là những ngƣời đề xƣớng sớm việc học bằng cách làm. Socrates đã mô hình hóa cách học thông qua việc đặt câu hỏi, tìm hiểu và suy nghĩ phê phán - tất cả các chiến lƣợc vẫn còn rất phù hợp trong các lớp học DHTDA ngày nay.
Tiếp đó đến John Dewey, nhà lý luận và triết học giáo dục ngƣời Mỹ ở thế kỷ 20, ông đã cho thấy một sự chứng thực cho việc học tập dựa trên kinh nghiệm và đƣợc thúc đẩy bởi sự quan tâm của ngƣời học. Dewey thách thức quan điểm truyền thống của học sinh nhƣ một ngƣời tiếp nhận kiến thức thụ động (và giáo viên là ngƣời truyền tải một cơ thể tĩnh của các sự kiện). Thay vào đó, ông lập luận về những kinh nghiệm t ch cực chuẩn bị cho sinh viên học hỏi liên tục về một thế giới năng động. Dewey đã chỉ ra, "Giáo dục không phải là chuẩn bị cho cuộc sống, giáo dục là ch nh cuộc sống".
Maria Montessori đã phát động một phong trào quốc tế trong thế kỷ 20 với cách tiếp cận học tập từ thời thơ ấu. Cô ấy đã cho thấy qua v dụ rằng giáo dục xảy ra "không phải bằng cách lắng nghe lời nói mà bằng kinh nghiệm về môi trƣờng." Các bác sĩ và chuyên gia phát triển trẻ em ngƣời đã tiên phong trong môi trƣờng học tập, thúc đẩy các công dân có khả năng, thích nghi và giải quyết vấn đề. Jean Piaget, nhà tâm lý học ngƣời Thụy Sĩ, đã giúp chúng tôi hiểu từ những trải nghiệm của chúng tôi ở các độ tuổi khác nhau. Những hiểu biết của ông đã đặt nền tảng cho cách tiếp cận kiến tạo trong giáo dục, trong đó sinh viên xây dựng dựa trên những gì họ biết bằng cách đặt câu hỏi, điều tra, tƣơng tác với ngƣời khác và phản ánh những kinh nghiệm này.
5 Trong bối cảnh lý thuyết này, học tập dựa trên vấn đề (problem- based learning ) đã xuất hiện hơn nửa thế kỷ trƣớc nhƣ một chiến lƣợc giảng dạy thực tế trong y học, kỹ thuật, kinh tế và các ngành khác. Với phƣơng pháp này, sinh viên đƣợc thử thách giải quyết vấn đề hoặc thực hiện các mô phỏng bắt chƣớc cuộc sống thực. Đây là cách sinh viên y khoa, v dụ, học cách chẩn đoán và điều trị bệnh nhân thực tế - điều mà họ không thể học đƣợc trên giảng đƣờng. Không giống nhƣ hƣớng dẫn dựa trên sách giáo khoa, học tập dựa trên vấn đề đặt học sinh chịu trách nhiệm đặt câu hỏi và khám phá câu trả lời.
Phƣơng pháp dạy học dự án đƣợc bắt nguồn đầu tiên ở Châu Âu nhƣng nó lại đƣợc phát triển và trở thành một sản phẩm của phong trào giáo dục tiến bộ Mỹ. Cho tới cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, DHTDA mới đƣợc đƣa vào sử dụng ở Mỹ trong các trƣờng phổ thông với trong phong trào cải cách giáo dục lấy học sinh làm trung tâm. Các nhà sƣ phạm ngày đó mới xây dựng cơ sở l luận cho phƣơng pháp này , coi đây là một PPDH định hƣớng phát triển nang lực lấy học sinh làm trung tâm, và có thể khắc phục đƣơực những nhƣợc điểm – lấy giáo viên làm trung tâm của quá trình dạy học học truyền thống. Ban đầu, phƣơng pháp DHTDA chỉ đƣớc ứng dụng trong một số t môn dạy học thực hành các môn kĩ thuật, mĩ thuật.
về sau này dần dần đã đƣợc ứng dụng rỗng rãi trong hầu hết tất cả các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.Trong thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cải cách giáo dục lấy HS làm trung tâm lắng xuống một thời gian dài. Và trào lƣu cải cách giáo dục mới bùng nổ trở lại vào những năm 70 thế kỉ 20, và đã tạo ra sự phát triển mới của DHTDA và đƣợc nghiên cứu, sử dụng ở nhiều nuớc trên thế giới. Ngày nay, DHTDA đƣợc các nhà khoa học quan tâm và sử dụng rộng rãi, ứng dụng ở tất cả các cấp học - bậc học, từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học, đào tạo nghề. Chẳng hạn ở Đan Mạch, trƣờng đại học Roskilde dành trên 50% quĩ thời gian đào tạo cho DHTDA [10].
Trong nước DHDA có những ƣu điểm vƣợt trội đã và đang thu hút nhiều nhà nghiên cứu và DHDA đƣợc đề cập nhiều hơn trong các tài liệu tiếng Việt. Có rất nhiều các bài báo, công trình đƣợc công bố liên quan đến DHDA. Nguyễn Văn Cƣờng và TS.