phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, luận án kết cấu gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp ra nước ngoài. Chƣơng 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam vào Campuchia. Chƣơng 4: Một số khuyến nghị thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Campuchia.
TỔNG QUAN T NH H NH NGHI N CỨU LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Nghiên cứu về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) là một chủ đề rất được quan tâm, nhất là đối với các nước đang phát triển. Khi nền kinh tế trong nước đạt đến ngưỡng phát triển nhất định, OFDI đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn tài nguyên cho sản xuất trong nước, xây dựng chuỗi cung ứng, nguồn thu ngoại tệ,., qua đó, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế, trong nhiều trường hợp dòng vốn OFDI còn mang nhiều yếu tố chính trị, đặc biệt là giữa các quốc gia có đường biên giới chung. Khi đó, OFDI trước hết phải mang lại lợi ích giữa các bên đồng thời phải làm sâu sắc hơn mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia đó.
Xuất phát từ nhận định này, do nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Campuchia, luận án tổng quan tình hình nghiên cứu theo những hướng chính sau: 1. Nghiên cứu về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào nƣớc láng giềng - Nghiên cứu về đ u tư tr c tiếp nư c ngoài c nhiều hư ng, nhiều ch đề được quan tâm, nhưng c thể thấy ch đề nghiên cứu về nh ng nh m nhân tố ảnh hư ng đến kết quả hoạt động đ u tư được nhiều h c giả quan tâm Điển hình như nghiên cứu của Aykut và cộng sự (2004) đã chỉ ra có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, bao gồm các yếu tố thúc đẩy và thu hút. Bằng cách phân tích dòng vốn FDI từ Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế trong giai đoạn 1994 - 2000 của ba nhóm (các nước thành viên OECD, các nước không thuộc OECD, các nước phát triển), phân tích cho thấy khi quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các DN bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: (i) Nhóm yếu tố thúc đẩy bao gồm nguồn vốn trong nước dồi dào, chi phí lao động tăng, cạnh tranh khốc liệt, lợi nhuận thấp và tốc độ tăng trưởng, quy định và chính sách, Chính phủ khuyến 11 khích đầu tư ra nước ngoài. Tiếp đến, nghiên cứu của Daniel C.
Andrea Ascani và cộng sự (2016) cũng đã đi đến kết luận cho rằng quyết định đầu tư của các công ty đa quốc gia thuộc EU vào các nước láng giềng ảnh hưởng bởi các yếu tố: mức lương, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng của môi trường kinh doanh và pháp luật nước sở tại [13]. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Blanco (2012) nhận thấy rằng tiềm năng thị trường tại các nước láng giềng có tác động tích cực đến dòng vốn FDI vào các nước Mỹ LaTinh [16]. Để đánh giá tác động của FDI đến các quốc gia có liên quan, nghiên cứu của Krishna Chaitanya Vadlamannati (2009) cho thấy tác động tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp Ấn Độ đối với các nước láng giềng được điều hòa bởi các cải cách kinh tế của Ấn Độ, việc đảo ngược các cải cách của Ấn Độ sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp của các nước láng giềng [53]. Đối với tác động giữa các nước láng riềng, Thanet Wattanakul và Tanawat Watchalaanun (2017) đã chỉ ra mối liên hệ giữa GDP của Lào và xuất khẩu của Lào sang Thái Lan cũng như từ đầu tư trực tiếp của Thái Lan đến GDP của Lào và xuất khẩu của Lào sang Thái Lan [56].
Trong khi đó, Schäffler (2017) kết luận rằng ở cấp độ khu vực, các công ty đa quốc gia Đức ưu tiên đầu tư tại khu vực biên giới Đức - Cộng hòa Séc (quốc gia láng giềng phía Đông Đức), đã tạo điều kiện thuận tiện cho hợp tác thương mại xuyên biên giới, tiếp cận thị trường nước láng giềng, giảm chi phí vận 12 chuyển và chi phí dịch vụ tại khu vực biên giới. Đầu tư tại khu vực biên giới không chỉ cải thiện hoạt động kinh tế, xóa bỏ các rào cản thị trường, mà còn tăng cường hợp tác trong các vấn đề chính trị, cũng như nâng cao nhận thức về bản sắc chung giữa hai quốc gia [44]. Nghiên cứu của tác giả Churen Sun (2019) cho thấy việc thiết lập hoặc nâng cấp quan hệ đối tác, đặc biệt đối với quốc gia láng giềng có tác động tích cực đến quyết định đầu tư trực tiếp vào các nước trên của các công ty Trung Quốc ít nhất là trong ngắn hạn, chứng minh chiến lược ngoại giao của Trung Quốc hỗ trợ cho chiến lược đầu tư ra nước ngoài [49]. Đối v i các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế, r i ro chính trị tại nư c láng giềng ảnh hư ng đến OFDI Nghiên cứu của Jordaan (2005) đã đánh giá một số yếu tố tác động đến việc thu hút FDI của một quốc gia, đặc biệt tại khu vực châu Phi, và đưa ra kết luận rằng rủi ro chính trị tại nước láng giềng ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của quốc gia bên cạnh [32].
Trong khi đó, Alfredo Jiménez (2014) cho rằng triển vọng kinh tế tốt, nguồn lực con người và sự phát triển của cơ sở hạ tầng sẽ thu hút các dòng vốn đầu tư lớn hơn. Đồng thời cũng chỉ ra mối liên hệ bước đầu của mức độ rủi ro chính trị được đo lường thông qua ổn định chính trị, tham nhũng, tự do kinh tế đến dòng vốn FDI [31]. Đối với nghiên cứu của các tác giả (Phil Bekaert, Harvey, Lundblad và Siegel, 2014) và (Economou, Hassapis, Philippas và Tsionas, 2017) đã cho thấy rằng việc giảm thiểu rủi ro chính trị, củng cố thể chế chính trị của nước sở tại, tạo mức tăng đầu tư nước ngoài (FDI) đáng kể [14][25]. Trong khi đó, nghiên cứu của Mehmet Pinar và Thanasis Stengos (2020) đã phân tích mối liên hệ giữa mức độ dân 13 chủ ở các nước láng giềng và dòng vốn FDI vào các nước sở tại, các nước được bao quanh bởi các nước dân chủ thu hút dòng vốn FDI cao hơn, các quốc gia được bao quanh bởi các quốc gia láng giềng có thể chế tốt có xu hướng có thể chế tốt hơn, ít xảy ra xung đột hơn, có sự ổn định chính trị cao hơn do đó thu hút dòng vốn FDI cao hơn [42].
1: Các nghiên cứu về OFDI sang nước láng giềng STT Nghiên cứu Tác giả Nội dung Foreign direct investment and Cornelius J., 1 neighboring influences (2005) Political risk spreads Bekaert và cộng Chỉ ra mối liên hệ Foreign direct investment sự, (2014); 2 giữa chất lượng thể determinants in OECD and Economou và chế, rủi ro chính trị developing countries cộng sự (2017) tại nước láng giềng Troubles with the neighbour: và việc thu hút FDI. Africa’s problem, Africa’s Easterly và Levin, 3 opportunity (2000) và Spatial spillovers in the Kelejian (2013) development of institutions The spatial interdependence of Đánh giá các nhân tố 4 Blanco (2012) FDI in Latin America quyết định đến dòng What drives European vốn FDI giữa các multinationals to the EU nước láng giềng như Ascani A. và cộng 5 neighbouring countries? A triển vọng kinh tế, sự (2016) mixed methods analysis of tiềm năng thị trường, Italian investment strategies nguồn lực con người, Risky business: The political cơ sở hạ tầng, tài Daniel C. O'Neill, 6 economy of Chinese investment nguyên thiên nhiên, (2014) in Kazakhstan” môi trường kinh 14 STT Nghiên cứu Tác giả Nội dung “Political Risk as a Determinant doanh, vị trí địa lý… of Southern European FDI in Alfredo Jiménez 7 Neighboring Developing (2014) Countries South-South FDI flows: How Aykut và cộng sự 8 big are they (2004) Can China's Diplomatic Quan hệ chính trị Partnership Strategy Benefit Churen Sun 9 giữa hai quốc gia, Outward Foreign Direct (2019) mức độ dân chủ và Investment? dòng vốn FDI.
Democracy in the neighborhood Pinar M. và 10 and foreign direct investment Stengos T. (2020) Indian Economic Reforms and Mối liên hệ giữa Foreign Direct Investment: How Vadlamannati K. OFDI sang nước láng 11 Much Difference Do they Make (2009) giềng và cải cách to Neighbours? kinh tế của Ấn Độ.
Regional determinants of Tác động của đầu tư German FDI in the Czech tại khu vực biên giới 12 Schäffler (2017) Republic: New evidence on the đến kinh tế và chính role of border regions trị. Mối liên hệ giữa The Relationship between Wattanakul T. và GDP của Lào và xuất Foreign Direct Investment from 13 Watchalaanun T. khẩu của Lào sang Thailand and Export on the (2017) Thái Lan với ODFI Economic Growth of Laos của Thái Lan.
Nguồn: Tổng hợp c a tác giả 15 1. Nghiên cứu về đầu tƣ trực tiếp của các nƣớc vào Campuchia 1. Các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp vào Campuchia Đối với nghiên cứu về FDI tại Campuchia, các nghiên cứu đã có đã tập trung lý giải lợi thế so sánh cũng như những tác động tích cực, tiêu cực của OFDI đối với nền kinh tế nước này. Theo Alfons Uellenberg (2009), điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng, nền kinh tế nông nghiệp của Campuchia, cơ chế đất đai tại Campuchia sẽ là những nhân tố thu hút các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến [51].
Bên cạnh đó, các tác giả (Saing Chan Hang, Hem Socheth, Ouch Chandarany, Phann Dalis và Pon Dorina, 2012) đánh giá những ảnh hưởng của hoạt động đầu tư nước ngoài đến lĩnh vực nông nghiệp và vấn đề an ninh lương thực, bao gồm tổng quan ngành nông nghiệp và đầu tư nước ngoài trong nông nghiệp ở Campuchia, các chính sách và quy định ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, tác động của đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và khuyến nghị chính sách [43]. Đối với nghiên cứu của Ludo Cuyvers, Joseph Plasmans, Daniel Van Den Buckle (2011), những nhân tố quyết định có thể ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Campuchia chính là điều kiện về kinh tế, địa lý và đặc điểm chính trị, chỉ ra GDP của nước đầu tư, thương mại song phương của nước đó với nước nhận đầu tư và tỷ giá hối đoái có tác động tích cực đến dòng vốn FDI vào Campuchia, khoảng cách địa lý tác động tiêu cực đến mức vốn FDI vào Campuchia [19].