CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ DƯỚI HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC DỊCH VỤ CÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu về PPP Cho đến nay, nhiều công trình cả ở Việt Nam và trên thế giới đã nghiên cứu về PPP. Tại Việt Nam, đa số các công trình nghiên cứu lý luận chung về PPP, nghiên cứu các văn bản, quy định, kinh nghiệm về PPP của một số nước, thưc trạng PPP tại Việt Nam trong các lĩnh vực cụ thể hoặc ở một số vùng nhất định, để giải quyết một số vấn đề nhất định.
Các công trình nghiên cứu có thể kể đến: Hồ Công Hòa (2011) - “Mô hình hợp tác công tư - giải pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của tư nhân cho các dự án môi trường ở Việt Nam” đánh giá và phân tích nhu cầu và thực trạng nguồn vốn đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường tại Việt Nam, nhấn mạnh rằng các quan hệ đối tác công tư (PPP) là giải pháp hiệu quả đế tăng cường vốn, công nghệ và quản lý từ khu vực tư nhân. Tác giả sử dụng phương pháp định tính, phân tích các số liệu thứ cấp từ các nguồn như Viện Nghiên cứu chiến lược và Chính sách công nghiệp, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và môi trường và các công bố quốc tế khác, phân tích, so sánh nhu cầu và thực trạng môi trường ở Việt Nam và những đặc trưng của mối quan hệ hợp tác công tư, từ đó chỉ ra sự cần thiết triển khai các dự án hạ tầng về môi trường ở Việt Nam theo hình thức PPP. Phương pháp nghiên cứu của tác giả Phan Thị Bích Nguyệt (2013) trong bài viết “PPP - Lời giải cho bài toán vốn để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại TP. Hồ Chí Minh” cũng tương đối giống nhiều công trình về PPP đã công bố, tác giả sử dụng các phương pháp định tính, nghiên cứu tại bàn để phân tích các dữ liệu thứ cấp.
Tác giả phân tích tính hiệu quả của việc áp dụng mô hình PPP để giải quyết bài toán vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại Việt Nam và chỉ ra sự thiếu hụt của hành lang pháp lý thông qua phân tích các dữ liệu thứ cấp trích dẫn từ các điều luật của Việt Nam hoặc thu được từ các công trình nước ngoài, tuy nhiên, các dữ liệu này cũng đã tương đối cũ. Cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích các dữ liệu thứ cấp tại Việt Nam và học tập kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới, 10 nghiên cứu của ủy ban kinh tế của Quốc hội và UNDP (2014) về "Phương thức đổi tác công - tư (PPP) - Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khô thể chế tại Việt Nam" đã khái quát chung về các yêu cầu dối với dự án PPP, đánh giá tình hình thực hiện các dự án, môi trường thể chế và kinh nghiệm áp dụng phương thức PPP trên thế giới. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh vào đặc điếm riêng, yêu cầu quản lý, cơ chế thực hiện và chia sẻ rủi ro riêng của mỗi dự án PPP, do vậy việc lựa chọn đối tác, cách thức quản lý là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công của dự án. Tuy nghiên cứu đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có ích từ một số trường hợp, nhưng các quốc gia được đưa ra để học tập kinh nghiệm mà nghiên cứu đề cập đến khá nhiều và giàn trải, một số quốc gia có thực trạng thị trường PPP còn xa rời với thực tiễn tại Việt Nam để có thể học hỏi.
Hơn nữa, các dữ liệu thứ cấp được phân tích trong nghiên cứu trên cũng đã cũ so với thời điểm hiện tại. Khác với Việt Nam, Các nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt là các nghiên cứu lớn từ các tổ chức lớn, có đủ nguồn lực để thu thập dữ liệu, sử dụng những phương pháp nghiên cứu và các bộ tiêu chí công phu hơn để đánh giá các thị trường PPP. Chẳng hạn World Bank sử dụng bộ tiêu chí Infrascope để thực hiện báo cáo đánh giá thực trạng PPP các khu vực và các quốc gia. Các báo cáo này được thực hiện hàng năm và bộ tiêu chí Infrascope được sử dụng lần đầu vào năm 2009 để đánh giá các nước thuộc Châu Mỹ Latinh và Ca-ri-bê.
Bộ tiêu chí trên cũng được sửa đổi để thích ứng trong từng giai đoạn hoặc khu vực. Đây là một bộ tiêu chí rất chất lượng và tương đối phức tạp, tuy nhiên để xây dựng được bộ tiêu chí như vậy đòi hỏi phải có nguồn lực cả về quy mô, tài chính lẫn đội ngũ chuyên gia. Một hạn chế khác là các báo cáo này thường được thực hiện đánh giá tại từng khu vực mỗi năm, các tiêu chí cũng có thể có sự điều chỉnh, do vậy, nhiều khi khó có thể so sánh chính xác thực trạng và hiệu quả của hai hoặc nhiều khu vực cũng như các quốc gia thuộc các khu vực khác nhau mà chỉ có thể nhặt các tiêu chí tương đồng để đánh giá. Trung tâm tư vấn PPP Châu Âu - European PPP Expertise Centre (EPEC) cũng cung cấp các công cụ, các công trình, báo cáo thường niên về tình hình PPP tại các quốc gia Châu Âu, bao gồm hướng dẫn về PPP được cập nhật hàng năm, công cụ phân tích tiền dự án, một số công trình đã công bố như: “Những lợi ích phi tài chính của PPP - Tổng quan các quan điểm và phương 11 pháp luận” (EPEC, 2011), “Các quỹ EU trong các dự án PPP – đối tượng tham gia và nghiên cứu các trường hợp điển hình” (EPEC, 2012).
EPEC cũng có hệ thống đánh giá riêng và dữ liệu để thực hiện các báo cáo về PPP, tuy nhiên nhóm dữ liệu và đánh giá này chủ yếu thực hiện ở một số nước Châu Âu và một số lĩnh vực, tập trung nhiều nhất vào giao thông và năng lượng. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về PPP của một số nhà nghiên cứu khác có thể kể đến như: công trình “Hợp tác công - tư ở châu Âu và Trung Á: thiết kế chiến lược chịu áp lực của khủng hoảng và dự án ngân hàng khả thi” (Vickram Cuttaree và Cledan Mandri-Perrott, 2011) trình bày tổng quan các dự án PPP ở châu Âu và Trung Á (ECA), phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với các dự án PPP này, đồng thời đánh giá về thị trường PPP hiện nay. Nghiên cứu này xem xét kinh nghiệm của ECA về PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng trước và trong giai đoạn khủng hoảng tài chính (từ cuối năm 2006 đến năm 2010). Dựa trên những bài học thành công và thất bại từ Brazil, Ấn Độ, Tây Ban Nha, và Vương quốc Anh, báo cáo rút ra những bài học liên ngành, từ đó gợi mở cho các quốc gia hiện nay đang bắt đầu áp dụng PPP.
Nghiên cứu này rất khó để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam vì nghiên cứu tập trung vào giải quyết khủng hoảng tài chính trong một bối cảnh khủng hoảng tài chính cụ thể, trong một lĩnh vực cụ thể và các quốc gia được học tập kinh nghiệm cũng được lựa chọn phù hợp với khu vực Châu Âu và Trung Á. Nhìn chung, các công trình đã được công bố chủ yếu nghiên cứu lý luận và thực tiễn triển khai PPP trong một số lĩnh vực nhất định như các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, điện năng, môi trường, hoặc nghiên cứu nhằm phát triển kinh tế - xã hội tại một vùng nhất định. Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là định tính, chưa có nhiều nghiên cứu kết hợp cả định lượng, nhất là tiếp cận dưới góc độ quản lý nhưng vẫn xem xét đến các yếu tố từ doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu về bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới cũng nhiều, tuy nhiên các quốc gia được đề cập đến còn giàn trải, chưa xác định rõ các quốc gia mà thị trường PPP Việt Nam có thể học hỏi được một cách hiệu quả.
Do PPP là một lĩnh vực đặc thù và các vấn đề về tài chính thuộc cũng tương đối nhạy cảm nên các dữ liệu từ các quốc gia này chủ yếu cũng là các dữ liệu chung về đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị, xã 12 hội, cơ chế vận hành và pháp lý đối với hình thức PPP, chứ không có nhiều các dữ liệu đi sâu vào tài chính của các dự án hay cơ chế phân bổ rủi ro cụ thể giữa khu vực công và khu vực tư. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ công Từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy các đối tượng thuộc một dự án đầu tư dưới hình thức đối tác công tư bao gồm: (1) khu vực Nhà nước, (2) khu vực tư nhân và (3) dự án PPP. Vì vậy Luận án xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ công trên ba khía cạnh nêu trên. Nhóm yếu tố liên quan tới khu vực Nhà nước Nhiều công trình trong nước và quốc tế đã nghiên cứu đến vai trò quan trọng của các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư của khu vực tư nhân thuộc môi trường đầu tư liên quan đến khu vực Nhà nước như khung pháp lý về hoạt động đầu tư, mức độ ổn định chính trị của một quốc gia hay các yếu tố kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc dân.
Nhóm tác giả Weiling Jiang và cộng sự (2019) sử dụng phương pháp phân cụm và hồi quy bình phương nhỏ nhất để phân tích cơ sở dữ liệu thu được tại 90 quốc gia đang phát triển từ năm 2006 đến năm 2015, từ đó, nhóm tác giả đã chỉ ra việc ổn định chính trị và hoạt động của chỉnh phủ tại các quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư của khối tư nhân vào các dự án dịch vụ công. Điều này thể hiện ở những yếu tố cụ thể như: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, các điều kiện kinh tế vĩ mô,… Kết quả nghiên cứu cho thấy các nước có GDP cao hơn, số lượng dự án cơ sở hạ tầng cần đầu tư cao nhưng tăng trưởng GDP thấp, rủi ro chính trị đóng vai trò mạnh mẽ trong việc thu hút nhà đầu tư tư nhân.