Chương I: Những vẫn đề cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Truyền tải điện Chuơng II: Thực trạng đâu tư phát triển tại Công ty Truyền tải điện I giai đoạn 2006-2010 Chương III : Một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư tại Công ty truyền tải điện I 2 C huông I - NHỮ NG VẤN ĐÊ c o BẢN VÈ ĐẦU T ư PHÁT TRIÊN TRO NG DOANH NGHIỆP TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1. Đâu tư phát triên trong doanh nghiệp Truyền tải điện 1. Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Đau tu phát triên trong doanh nghiệp là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dung vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra nhũng tài sán vật chât ( nhà xưởng thiết bị.) và tài sản trí tuệ ( tri thức kỹ năng •••)’ êta tang năng lực sản xuât, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển Đau tu phát triên đòi hỏi rât lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp nguồn lực sẻ dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn.
Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên. Đôi tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bở vốn thực hiện nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Tùy từng góc độ khác nhau mà có thể phân chia thành các nhóm đối tượng đầu tư. Ví dụ: Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng thì chia thành loại được khuyến khích đầu tư, loại không khuyến khích đâu tư và loại bị câm đầu tư; dưới góc độ tài sản bao gồm: tài sản vật chất và tài sản vô hình.
Ket qua cua đau tu phát triên là sự tăng thêm về tài sản vật chất ( nhà xưởng thiêt bị.) tài sản trí tuệ ( trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật.) và tài sản vỏ hình ( phát minh sang chế, bản quyền.) Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của doanh nghiệp hay của xã hội Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vũng, vì lợi ích quốc gia cộng đông và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tê, tăng thu nhập quôc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phi, toi đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại vân đê độ trê thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng họp giữa thời gian 3 đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư.
Đầu tư hiện tại nhung kết quả đầu tư thường thu được trong tưong lai. Đâu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính là loại đâu tư trong đó người có tiên bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiết kiệm, mua trái phiêu chính phủ) hoặc tùy vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng tài sản thực cho nền kinh tế.
mà chỉ làm tăng giá trị tái sản tài chính cho chủ đầu tư. Đầu tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hang, công ty chứng khoán. Đâu tư tài chính thường có đặc điểm là: Chủ đầu tư thường kỳ vọng thu về được lợi nhuận cao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể giảm không theo ý muốn. Tuy nhiên, đầu tư tài chính là kênh huy động vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển và là một trong những hình thức đầu tư lựa chọn để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động đầu tư.
Từ những sự khác nhau đó, ta có thể thấy những đặc điểm cơ bản của đầu tư phát triển như sau: v ề mặt quy mô vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư: Quy mô vốn đầu tư lớn và nằm khê động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Do đó đòi hỏi cân có các giải pháp tạo và huy động vốn hiệu quả, hợp lý, xây dụng chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ, thực hiện đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Lao động cần sử dụng cho các dự án lớn, đặc biệt là các dự án quan trọng, các dự án trọng điểm. Do đó công tác tuyên dụng, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ.
cần theo kế hoạch định trước sao cho đáp ứng được nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư. Vê mặt thời gian: Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ thời điểm khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hang chục năm.
Do đó, với một lượng vôn lớn nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cần tiến hành bố trí vốn và các nguồn lực dút điểm theo từng 4 hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, quản lý chặt chẽ tiến đọ ke hoạch đau tu, khăc phục tình trạng thiêu vôn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Thời gian vận hành các kết quả của quá trình đầu tư thường kéo dài. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình đi vào hoạt động cho đến khi hêt thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài.
Tuy nhiên, trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động cúa nhiều yếu tố: tự nhiên, chính trị, kinh tế xã hội. do vậy, cần thiết phải có phương pháp dự báo khoa học về cả vi mô và vĩ mô về nhu cầu thị trường đối với sản phâm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án. Bên cạnh đó cũng cần quán lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đâu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn. Ngoài ra cũng cần chú ý đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư.
Đầu tư trong nam nhung thành quả đâu tư chưa chăc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ nhũTig năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây được coi là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư. Cac thanh quá cua hoạt động đâu tư phát triên mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dụng nên. Do đó, quá trình thực hiẹn đau tu cung như thời kỳ vận hành các kêt quả đâu tư chịu ảnh hưởng lớn cua cac nhan to ve tự nhiên, kinh tê xã hội vùng.
Do đó, khi quản lý hoạt động đầu tu can phai quan triẹt đặc diêm này trên nôi dung sau: Thứ nhât, cần có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng như đầu tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý. cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trên những căn cứ khoa học. Thứ hai cần phải lựa chọn thời điểm đầu tư hợp lý sao cho khai thác được tối đa nhũng lợi thế vùng và không gian đầu tư. Tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư.
Một đặc điểm cuối cùng có thể kể đến của đầu tư phát triển là đầu tư phát triển có độ rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỷ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kêt quả đâu tư cũng kéo dài., nên mức độ rủi ro của các hoạt động đầu tư phát triên thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên 5 nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu. có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản phẩm không đạt công suất thiết kế.Do đó, để quản lý hoạt động đâu tư phát triển hiệu quả, cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro như: nhận diện rủi ro đâu tư, đánh giá mức độ rủi ro, cuối cùng là xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro.
Mỗi loại rủi ro và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng nhằm hạn chế thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro gây ra. Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp truyền tải điện 1. Khái niệm đầu tư phát triển trong doanh nghiệp truyền tải điện Để hiểu khái niệm đầu tư phát triển trong một doanh nghiệp truyền tải điện, trước hêt ta cân hiểu về công tác truyền tải điện của doanh nghiệp truyền tải điện. Truyên tải điện là hoạt động quản lý, vận hành các công trình điện để đưa năng lượng điện từ nơi sản xuất điện đến lưới điện phân phối” Như vậy, đầu tư phát triển trong doanh nghiệp truyền tải điện là hoạt động chi dung vốn và các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp truyền tải điện cho các hoạt động xây dựng mới và sửa chữa các thiết bị lưới truyền tải điện, vận hành, thí nghiệm, hiệu chỉnh các thiết bị lưới điện sau sửa chữa và xây dựng mới; phục hồi, cải tạo, xây lắp các trạm biến áp và đường dây truyền tải mới trong địa bàn quản lý, vận hành của công ty nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản của doanh nghiệp như về số lượng các trạm biến áp, số km đường dây truyền tải, chất lượng năng lực hệ thống truyền tải sau khi được nâng cấp.
đồng thời có thể tạo thêm được việc làm và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty. Nguồn vốn trong doanh nghiệp truyền tải điện Hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn đâu tư của doanh nghiệp cũng được đa dạng hóa. Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường tài chính và tùy thuộc theo từng loại hình doanh nghiệp có thể có những phương thức tạo vốn và huy động vốn đầu tư khác nhau.