CHƯƠNG 1 CÁC NHÂN TO THÚC DAY TNCs NHẬT BAN DEN DAU TƯ TAI VIET NAM 1. NHOM NHAN TO CHUNG 1.Khái niệm va vai trò của TNCs 1.Các khái niệm về TNCs TNC xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi Chủ nghĩa Tư bản chuyền từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyên. Khi quá trình sản xuất — kinh doanh của một Công ty vượt ra khỏi biên giới quốc gia và có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhiều nước thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài thì công ty đó được gọi là công ty xuyên quốc gia. Quá trình tích tụ vốn ngày một lớn cùng với trình độ sản xuất ngày một tiến bộ khiến các công ty có nhu cầu mở rộng sản xuất ra nước ngoài.
Trong khi đó, cạnh tranh gay gắt ngay tại thị trường nội địa cùng với hiệu suất biên của vốn trong nước giảm là những nhân tố không thể thiếu được, tác động vào quyết định mở rộng đầu tư ra nước ngoài của các công ty nội địa. Sang thể kỷ XX, sự phát triển của mạng lưới thông tin liên lạc và phương thức vận tải đã làm cho quy mô và hình thức tô chức của các xí nghiệp thuộc địa cũng được mở rộng theo. Các công ty xuyên quốc gia bắt đầu thực hiện các chiến lược đầu tư ra nước ngoài để bố trí mạng lưới và địa điểm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm sao cho hợp lý nhất. Do đó, quy mô lớn cả về sản xuất lẫn năng lực quản lý, ứng dụng những kỹ thuật sản xuất hàng loạt, các công ty xuyên quốc gia luôn muốn xuất khâu và thành lập các tổ chức tiêu thụ không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài.
Việc đây mạnh đầu tư ra nước ngoài dé sản xuất, tiêu thụ và mua nguyên liệu trở thành mục tiêu trong chiên lược đâu tư ra 12 nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia. Chính việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chuyển giao công nghệ. đã biến công ty xuyên quốc gia thành lực lượng hùng mạnh trong nền kinh tế thế giới, đưa công ty xuyên quốc gia lên vai trò cầm lái trong mạng lưới toàn cầu (Global Producation Network) và trở thành nhà điều phối chính trong các hoạt động của chuỗi giá trị toàn cầu (Global value chain). Sự phat triển liên tục của công ty xuyên quốc gia về quy mô, cơ cấu tô chức, phương thức sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã làm nảy sinh rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về công ty xuyên quốc gia.
Mặc dù đều thừa nhận rằng, các công ty xuyên quốc gia phải là những công ty độc quyên lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế và có thé gọi là những công ty đa quốc gia hay công ty xuyên quốc gia, tuỳ theo tiến trình phát triển nhận thức chung về loại hình công ty này, nhưng chúng ta có thể nhận thay vê cơ bản có hai loại quan điêm chính sau: Thứ nhất, quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation) trong đó bao gồm cả công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia, công ty siêu quốc gia. Những người theo quan niệm này không quan tâm đến nguồn gốc tư bản sở hữu cũng như quốc tịch của công ty, không chú ý đến bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty đó hay chi nhánh của nó. Nói chung, họ chỉ quan tâm đến phạm vi quốc tế của các hoạt động sản xuất — kinh doanh, thương mai, đầu tư của công ty. Nghia là họ chi chú ý đến mặt quốc tế hoá hoạt động kinh doanh của công ty mà thôi.
Thứ hai, quan niệm về công ty xuyên quốc gia lại chú ý tới tính chất sở hữu và tính quốc tế của tư bản: các công ty xuyên quốc gia là công ty tư bản độc quyền có tư bản thuộc về chủ tư bản của một nước nhất định nào đó. Chủ tư bản ở một nước cụ thê nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện 13 kinh doanh trong và ngoài nước băng cách lập các công ty con ở nước ngoài là hình thức điển hình của loại này. Điểm khác biệt căn bản giữa công ty xuyên quốc gia cũng là công ty tư bản độc quyền thực hiện thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài dé tiễn hành các hoạt động kinh doanh quốc tế. Trong số 500 công ty lớn nhất thé giới hiện nay (xét công ty mẹ, chỉ có 3 công ty thuộc sở hữu chỉ một nước, không có công ty nào thuộc sở hữu 3 nước trở lên.
Như vậy, tính chất “đa quốc gia” của công ty mẹ là rất thấp. Trong báo cáo đầu tư thế giới, các chuyên gia của Liên hiệp quốc đã nêu định nghĩa về công ty xuyên quốc gia: “Công ty xuyên quốc gia là những công ty TNHH hoặc vô han bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài. Các công ty mẹ là các công ty kiểm soát tài sản của các thực thê kinh tế khác ở nước ngoài, thường được thực hiện thông qua việc góp vốn cô phần”. Trong báo cáo đầu tư của Liên hiệp quốc cũng nêu rõ: Công ty con (Subsidiary Enterprise), Công ty liên kết (Associate Enterprice), các chỉ nhánh (branches) đều được gọi chung là các chi nhánh nước ngoài (Eoreign Affiates) hay các chi nhánh (Affiates).
Trong đó công ty mẹ trực tiếp có quyền sở hữu trên 1/2 quyền biểu quyết của các cô đông và có quyền chỉ định hay bãi miễn phan lớn thành viên của Ban Giám đốc, Ban Quản lý hay Thanh tra. Công ty liên kết là công ty TNHH ở nước chủ nhà, trong đó nhà đầu tư có sở hữu trên 10% nhưng không lớn hon 1/2 quyền biểu quyết của các cổ đông. Các chi nhánh là công ty trách nhiệm vô hạn có toàn bộ vốn ở nước chủ nha, 100% tai sản thuộc sở hữu của Công ty me. Vai trò của TNCs Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, vốn là những nước nghèo nàn và lạc hậu, trình độ sản xuất thấp kém.
Dé thoát ra khỏi tình trạng trên, tất yếu chúng ta phải tiễn hành công nghiệp hoá. Dé thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng này, yêu cầu tối thiểu là phải có vốn, công nghệ. Trong lúc nền kinh tế chưa có tích luỹ thì việc trông chờ nguồn vốn trong nước là rất hạn chế. Mặt thứ hai của van dé là công nghệ: máy móc và kỹ thuật.
Thông thường, các nước có công nghệ hiện đại thường chỉ chuyển giao những công nghệ không phải là tiên tiến. Các nước đang phát triển như Việt Nam cần đến vốn và công nghệ của nước ngoài, đặc biệt là từ những nước có trình độ phát triển kinh tế cao và có tiềm lực kinh tế mạnh. Chỉ có các TNCs mới có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu cho công cuộc phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. Do vậy các TNCs có một vai trò rất lớn.
+ Thứ nhất: Các TNCs là kênh tốt nhất để thoả mãn nhu cầu nhập khâu hàng hoá của các nước đang phát trién. + Thứ hai: Cac TNCs là bạn hàng lớn, có sức mua lớn hoàng hoá từ các nước đang phát triển. + Thứ ba: Thông qua hình thức dau tư trực tiếp, các TNCs có thé góp vôn, chuyên giao công nghệ cho các nước. + Thứ tư: Các TNCs góp phần đào tạo các nhà quản lý, tạo việc làm, góp phần thúc đây quan hệ giữ nước đầu tư và nước nhận đầu tư.
Phân loại và chiến lược đầu tư trực tiếp của TNCs 15 1. Phân loại TNCs Mặc dù có nhiều tên gọi nhưng TNCs đều có đặc điểm chung là một pháp nhân sản xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ tại ít nhất hai quốc gia. Công ty xuyên quốc gia có thê chia thành 3 nhóm chính. - Các công ty xuyên quốc gia có liên kết theo chiều ngang (Horizontally integrated multinational corporations): những công ty thực hiện việc điều hành sản xuất và cung cấp các sản phẩm giống như nhau tại các quốc gia khác nhau.
- Các công ty xuyên quốc gia có liên kết theo chiều dọc (Vertically integrated multinational corporations): những công ty thực hiện chuyên môn hoá sản xuất các sản phâm trên quy mô kinh tế, mỗi quy trình sẽ được thực hiện tại những nơi có lợi thế nhất, sản pham được sản xuất tại quốc gia này sẽ là đầu vào của công ty đó tại quốc gia khác. - Các công ty xuyên quốc gia có liên kết hỗn hợp (Diversified multinational corporations): những công ty thực hiện cùng một lúc cả hai hình thức liên kết theo chiều dọc và liên kết theo chiều ngang. Chiến lược đầu tư trực tiếp của TNCs Chiến lược đầu tư (Investment Strategy) của các công ty xuyên quốc gia co thé hiểu là việc đưa ra các mục tiêu dài hạn và tận dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài công ty để đạt được mục tiêu đó trong quá trình đầu tư. Nếu xét theo mục đích quản lý của Chủ đầu tư, ta chia đầu tư ra nước ngoài thành hai hình thức chính là đầu tư gián tiếp (portfolio investment) và dau tư trực tiếp (direct investment).
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, các chiến lược được nghiên cứu sẽ chỉ tập trung trong hình thức đầu tư trực tiếp. 16 Cũng như đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới rất nhiêu chiên lược khác nhau. Các chiên lược đâu tư trong dau tư trực tiêp nước ngoài được chia thành 4 loại chiến lược sau: - Chiến lược tìm kiếm nguồn lực (Resource — seeking) - Chiến lược tìm kiếm thị trường (Market — seeking) - Chiến lược tìm kiếm hiệu qua (Efficiency — seeking) - Chiến lược tìm kiếm tài sản chiến lược (strategic — asset — seeking). Các chiên lược nay có thê tiép cận dưới góc độ như những chiên lược kê tiệp trong toàn bộ quá trình dau tư của công ty xuyên quôc gia tại nước nhận dau tư hoặc có thê tiêp cận như các chiên lược đơn lẻ được thực hiện trong quá trình dau tu của các công ty xuyên quôc gia.
* Chiên lược tìm kiêm nguon lực: Chiến lược tìm kiếm nguồn lực trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm mục đích tận dụng và khai thác các lợi thế so sánh của các quốc gia trong quá trình đầu tư của các công ty. Các công ty sẽ khai thác những nguồn lực đó có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất hang hoá của công ty như nguyên liệu thô, hoặc cũng có thé là nguồn lao động dồi dào tại thị trường nội địa.