CHƯƠNG 1 4 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN NGHÈO ĐÓI VÀ ĐẦU TƯ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ NGHÈO ĐÓI 1. Khái niệm về đầu tư 1. Đầu tư Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó2.
Khái niệm về đầu tư trong Từ điển kinh tế học: “Đầu tư là các hoạt động hình thành tài sản thực như mua mới hoặc duy tu máy móc, xây dựng nhà để sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ cho tiêu dùng trong tương lai”. Đầu tư phát triển: Là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản vật chất, tài sản vô hình và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; gia tăng năng lực sản xuất; tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Đầu tư công cộng 2 Trang 1, Giáo trình Kinh tế đầu tư, NXB ĐH Kinh tế Quốc Dân 5 Đầu tư công cộng (hay còn gọi là đầu tư công) nói chung là đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; vào sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ của nhà nước; vào cải thiện môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên thiên nhiên; vào an ninh quốc phòng. Vốn đầu tư công cộng là nguồn tài chính do nhà nước bỏ ra và quản lý nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư theo chương trình và kế hoạch của nhà nước.
Nguồn tài chính này bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước, nguồn vốn của các DNNN, ODA và nguồn vốn khác. Khái niệm và phương pháp xác định nghèo đói 1. Các khái niệm về nghèo đói Có nhiều định nghĩa về nghèo đói, theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới thì nghèo đói là không có khả năng đạt được mức sống tối thiểu. Có 2 loại nghèo đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối: - Nghèo tuyệt đối: là không đạt được mức sống tối thiểu để duy trì được một thể chất và tâm lý bình thường.
- Nghèo tương đối: là sự thiếu hụt so với một mức sống trung bình của một quốc gia cả về vật chất và phi vật chất. Phương pháp xác định nghèo đói 1. Chuẩn nghèo (đường/ngưỡng nghèo) Chuẩn nghèo là ngưỡng mà những người có mức sống thấp hơn ngưỡng đó sẽ được coi là nghèo. Để đo lường mức sống người ta thường dùng 2 chỉ tiêu là thu nhập và chi tiêu.
Chuẩn nghèo tuyệt đối gồm 2 loại: chuẩn nghèo lương thực thực phẩm (LTTP) và chuẩn nghèo chung. Các chuẩn nghèo hiện nay ở Việt Nam bao gồm: (i) Chuẩn nghèo LTTP năm 1993 của Tổng cục Thống kê (TCTK): Tổng cục Thống kê xây dựng chuẩn nghèo LTTP năm 1993 là 2.100 Kilo calo một người một ngày. Chuẩn nghèo các năm sau bằng trị giá rổ hàng ăn uống của năm 1993 tính theo giá của năm tương ứng. 6 (ii) Chuẩn nghèo mới của Chính phủ giai đoạn 2006-2010: Chuẩn nghèo mới của Chính phủ áp dụng cho Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 được Bộ LĐTB&XH và TCTK xây dựng: 200 ngàn đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 260 ngàn đồng/người/tháng cho khu vực thành thị.
(iii) Chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới (NHTG): NHTG tại Việt Nam xây dựng chuẩn nghèo chung bằng chuẩn nghèo LTTP cộng với mức chi cho các hàng hoá phi LTTP thực tế tiêu dùng bởi nhóm 3. Các chỉ tiêu đo lường mức sống Để đo lường mức sống người ta thường dùng 2 chỉ tiêu là thu nhập và chi tiêu. Đây là 2 chỉ tiêu tổng hợp biểu thị cho phúc lợi của hộ gia đình. Các thước đo nghèo đói: * Tỷ lệ nghèo: Tỷ lệ nghèo được tính theo công thức sau: Số người hoặc hộ có thu nhập (chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn Tỷ lệ = chuẩn nghèo x 100 nghèo (%) Tổng số người hoặc số hộ 7 * Chỉ số khoảng cách nghèo Chỉ số đo lường tính bằng phần trăm thiếu hụt về thu nhập hoặc chi tiêu cho tiêu dùng (nếu đo lường tỷ lệ nghèo bằng chi tiêu) của những người nghèo so với chuẩn nghèo được bình quân hoá bởi dân số.
Các thước đo bất bình đẳng - Hệ số GINI: Hệ số GINI phản ánh mức độ bất bình đẳng về phân bổ thu nhập (hoặc chi tiêu) của dân số. Hệ số GINI có giá trị từ 0 đến 1: Giá trị bằng 0 biểu thị sự bình đẳng tuyệt đối và giá trị bằng 1 thì biểu thị sự bất bình đẳng tuyệt đối. - Chỉ số Theils’L: Chỉ số Theils’L là đại lượng xác định sự bất bình đẳng dựa trên lý thuyết thông tin/xác suất. - Chênh lệch giữa nhóm thu nhập (chi tiêu) cao nhất và nhóm thu nhập (chi tiêu) thấp nhất.
Các chỉ tiêu gián tiếp đánh giá chất lượng cuộc sống và liên quan đến nghèo đói Trong một vài thập kỉ gần đây đã xuất hiện cách tiếp cận rộng và nhiều chiều hơn so với thước đo thu nhập đối với tình trạng nghèo của Thế giới (1USD hay 2USD mỗi ngày/người), trong đó bên cạnh chỉ tiêu về thu nhập các chỉ tiêu xã hội cũng được tính đến – như cơ hội được đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị; gần đây trong “Báo cáo Phát triển thế giới 2000”, WB còn đưa thêm bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố củ quan như phẩm chất và lòng tự trọng. Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index – HPI) của Liên Hiệp Quốc là một chỉ tiêu đo lường mức sống của một nước do Liên Hiệp Quốc xây dựng, ngoài nhân tố mù chữ, suy dinh dưỡng của trẻ em, chết sớm, dịch vụ y tế nghèo nàn, thiếu khả năng tiếp cận tới nước sạch. Đối với các nước phát triển, Liên Hiệp Quốc cho rằng HPI phản ánh tốt hơn so với chỉ số phát triển con người (HDI) về mức độ nghèo cùng cực 8 Rủi ro sức khoẻ tính bằng Xắc xuất con người không sống quá 40 tuổi. Sự thiếu thốn về học vấn được đo lường bằng tỉ lệ mù chữ đối với lớp người lớn tuổi.
Mức sống thấp được tính bằng thiếu nước uống trong sạch và tỉ lệ số trẻ em gầy ốm. Vì thiếu dữ kiện do đó tỉ lệ được hưởng dịch vụ y tế đã không được bao gồm trong công thức tính HPI. P2: Tỉ lệ mù chữ (%). P3: số trung b́ nh thường (unweighted average) của tỉ lệ dân số thiếu nước uống sạch và số trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân (%).
Các con số của Việt-Nam vào năm 2004 P1: sắc xuất bị chết trước 40 tuổi = 9. P2: Tỉ lệ mù chữ = 9. P3A: tỉ lệ dân số thiếu nước uống sạch = 15%. P3B: tỉ lệ số trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân = 28% P3: số trung b́ nh thường của P3A và P3B = 21.5% HPI của Việt-Nam vào năm 2004 = 15.7 Việt-Nam được xếp vào hạng 33 trong số 102 nước đang phát triển.
Thất nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân đói nghèo Thất nghiệp tự nhiên: tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số người trong giai đoạn chuyển từ chỗ làm này sang chỗ khác. Thất nghiệp cơ cấu: do sự không tương thích của phân bố lao động và phân bố chỗ làm việc (khác biệt địa lý hoặc khác biệt kỹ năng). Người thất nghiệp không muốn hoặc không thể thay đổi nơi ở hoặc chuyển đổi kỹ năng. Thất nghiệp chu kỳ: khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giai đoạn suy thoái của chu kì kinh tế Thất nghiệp kỹ thuật: do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc công nghệ tiên tiến hơn.
9 Thất nghiệp thông thường: khi thu nhập thực tế xuống dưới mức chấp nhận được. Thất nghiệp theo học thuyết Mark: là mức cần thiết để thúc đẩy công nhân làm việc và giữ mức lương thấp Thất nghiệp theo mùa: khi công việc phụ thuộc vào nhu cầu theo thời tiết. Ví dụ: công nhân xây dựng trong mùa mưa, giáo viên dạy trượt tuyết trong mùa hè. Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x Số người không có việc làm Tổng số lao động xã hội 2.
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO Ba yếu tố kinh tế vĩ mô chính tác ảnh hưởng đến đói đói nghèo là tăng trưởng, việc làm và lạm phát. Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế, nhất là kinh nghiệm của các nước châu Á, cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến giảm nghèo; tuy nhiên mức độ tác động sẽ bị hạn chế nếu bất bình đẳng trở nên trầm trọng hay không có tăng trưởng vì người nghèo. Việc làm là một trong những kênh chính gắn kết tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo; các cơ hội việc làm tạo thu nhập chính là yếu tố chủ đạo trong giảm nghèo. Ngược lại với tăng trưởng và việc làm, lạm phát được coi là một thứ thuế luỹ thoái, không ổn định và thường tác động tiêu cực đến người nghèo.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, lạm phát có thể có tác động tích cực đến người nghèo, như khi người nghèo đang nợ nần, hay khi nông dân được lợi giá nông sản tăng cao. Nghèo và môi trường: Trong nhiều khu vực trên thế giới nạn nghèo là một trong những nguyên nhân chính đe dọa và phá hủy môi trường. Các vấn đề có nguyên do từ nạn nghèo làm cản trở các tiến bộ trong bảo vệ môi trường. Phương tiện tài chính cần thiết để bảo vệ môi trường không thể có được tại các vùng có nạn nghèo cao.
Klaus Töpfer, lãnh đạo cơ quan môi trường của Liên Hiệp Quốc UNDP đã gọi nghèo "là chất độc lớn nhất của môi trường", chống nghèo là điều kiện tiên quyết để có thành tựu trong việc bảo vệ môi trường. Ảnh hưởng của thất nghiệp tới xã hội và nền kinh tế - Thiệt thòi cá nhân 10 Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, áp lực tâm lý và tất nhiên là không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hoá tiêu dùng. Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh. Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe.