Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Bài viết Yale and the New Science of Jurisprudence 1915, in the book “The History of Legal Education in the US: Commentaries an Primary Sources”(Tạm dịch: Yale và xu hướng phát triển mới của Khoa học pháp lý, trong cuốn sách “Lịch sử giáo dục pháp lý ở Mỹ: Bình luận một số nguồn chính”) [126] của Arthur L.Cornin đã khái quát về hoạt động đào tạo, phương pháp và nội dung đào tạo luật nói chung, đào tạo Thẩm phán nói riêng tại Đại học Yale - Hoa Kỳ và xu hướng phát triển mới của khoa học pháp lý. Bài viết How to teach Law: An Outline and Bibliography (Tạm dịch: Cách dạy Luật: Đề cương và Tài liệu tham khảo) [127] phân tích về phương pháp giảng dạy luật tại Hoa Kỳ, phác thảo về phương pháp và hệ thống học liệu sử dụng trong đào tạo luật.
Bài viết A Comparision of the Use of Treatises and the Use of Case- Books in the Study of Law 1912 (Tạm dịch; So sánh việc sử dụng sách chuyên khảo và sử dụng “Case-Books” trong nghiên cứu luật 1912) [131] của George Chase đã tập trung so sánh việc sử dụng các sách chuyên khảo và sử dụng “Case-books” trong học luật. Bên cạnh đó, bài viết còn phân tích những ưu nhược điểm của hai phương pháp để đề xuất cách thức áp dụng một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các học liệu nên được sử dụng trong giảng dạy, chưa chỉ rõ cách thức, phương pháp giảng dạy sử dụng bản án trong các mô hình đào tạo cụ thể như thế nào. Bài viết Adapting the Case-Book to the Needs of Professional Training 1988 (Tạm dịch: Áp dụng sách tuyển tập các vụ án gắn với nhu cầu đào tạo chuyên nghiệp năm 1988) [132]của Henry Winthrop Ballantine đã phân tích tính cấp thiết đối với việc áp dụng sách tuyển tập các vụ án trong đào tạo pháp 9 luật tại Hoa Kỳ, từ đó đề xuất xây dựng tuyển tập các vụ án tạo thuận lợi cho hoạt động đào tạo chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, bài viết tập trung vào vấn đề đào tạo luật tại Hoa Kỳ nên không gắn với thực tế giảng dạy tại Việt Nam để lựa chọn các vụ án phù hợp. Bài viết Weakness of the “Case Method” in American Law schools: Suggestions Looking Toward Improved Intruction 1910 [133] của Josef Redlich đã phân tích về những vấn đề bất cập trong phương pháp giảng dạy theo tình huống tại các Trường luật tại Hoa Kỳ, đồng thời đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả của các phương pháp này. Tuy nhiên, bài viết chủ yếu bàn luận về phương pháp tình huống nói chung, trong đó vụ việc được lựa chọn có thể là án lệ hoặc không, chứ chưa trực tiếp bàn về bất kỳ một phương pháp giảng dạy cụ thể nào. Bài viết Legal Education in Autralia - A Never Ending Story (Tạm dịch: Đào tạo luật tại Úc - Câu chuyện chưa có hồi kết) [117] của Chief Justice Robert Fench AC đã phân tích về vấn đề đào tạo pháp luật tại Úc, trong đó nhấn mạnh việc giảng dạy dựa trên các văn bản pháp luật, ngoài ra việc giảng dạy luật còn thông qua các án lệ.
Cuốn sách French Legal Method (tạm dịch: Phương pháp Luật của Pháp) của nhà luật học người Pháp Eva Steiner đã hệ thống những phương pháp được sử dụng trong đào tạo luật ở Pháp. Tác giả cho rằng “đào tạo luật ở Pháp chủ yếu hướng đến mục đích cung cấp các kiến thức về những nguyên tắc pháp luật cùng với khả năng vận dụng các khái niệm trừu tượng và sự xây dựng các lập luận logic” [129, tr. Phương pháp diễn dịch (suy luận đi từ cái chung đến cái riêng) có nền tảng rất sâu sắc trong hệ thống pháp luật nước Pháp. Sinh viên luật về cơ bản được giảng dạy với phương pháp tư duy diễn dịch.
Theo cách này, sinh viên luật bắt đầu cách giải quyết một vấn đề pháp luật với các nguyên tắc và quy định trong các bộ luật, sau đó sẽ áp dụng các nguyên tắc quy phạm pháp luật đối với các tình huống cụ thể. Tác giả cho rằng “trong các trường luật của Pháp, các sinh viên luật bắt đầu kiến thức thực hành của họ trong nghề luật bằng việc phân tích các quyết 10 định của Tòa phá án” [129, tr. Tuy nhiên, cuốn sách chỉ dừng lại ở việc đề cập các phương pháp được sử dụng trong đào tạo luật nói chung ở Pháp, mà chưa đi sâu phân tích các phương pháp đào tạo cụ thể được sử dụng với từng đối tượng khác nhau. Bài viết “Legal Education in Germany’’, in Globalization and the U.S Law School Comparative and Culture Persepectives 1906-2006 (Tạm dịch: “Đào tạo luật ở Đức”, trong bối cảnh toàn cầu hóa và quan điểm văn hóa và so sánh trường Luật ở Mỹ từ 1906 đến 2006) [135] của Thomas Lundmark đã khái quát về mô hình đào tạo luật tại Đức.
Là quốc gia có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc trưng của truyền thống dân luật. Quy trình đào tạo luật và nghề luật ở Đức là toàn diện, thống nhất trên phạm vi toàn liên bang (gồm 16 bang). Đào tạo nghề luật ở Đức có điểm giống với nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu ở chỗ, đây là giai đoạn đào tạo kiến thức về các nghề luật như: Thẩm phán, luật sư, công tố… Nhưng khác biệt là: i) đây là một phần không thể thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học; ii) ở Đức không tồn tại mô hình đào tạo nghề thẩm phán như ở Pháp (sinh viên luật ở Pháp sau khi tốt nghiệp đại học, nếu có tham vọng trở thành thẩm phán thì phải tiếp tục thi và theo học trong trường đào tạo thẩm phán), mà pháp luật của Đức quy định một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên luật, sau khi tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghể luật. Như vậy, có thể thấy việc quy định 2 bước trong quy trình đào tạo luật ở Đức vừa có những điểm tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, đồng thời cũng có những đặc điểm riêng, thể hiện rõ nét ở việc đào tạo nghề luật trong giai đoạn thứ hai.
Bài viết “The Reform of Legal Education in China and Japan: Shifting from the Continental to the American Model”, (Tạm dịch: Cải cách giáo dục pháp lý ở Trung Quốc và Nhật Bản: Chuyển từ mô hình lục địa sang mô hình Mỹ) của Xiangshun Ding [137]; Bài “Changes in Japanese Legal Education” (Tạm dịch: Sự thay đổi trong đào tạo luật ở Nhật Bản) của WATON [136], 11 Andrew và bài giảng “Legal Profession in Japan” (Tạm dịch: Nghề tư pháp tại Nhật Bản) của Giáo sư Fujimoto Akira [130]. Các công trình trên đã đề cập đến cách thức đào tạo nghề tư pháp tại Nhật Bản. Điểm khác biệt với mô hình đào tạo nghề tư pháp ở Việt Nam là các chức danh thẩm phán, công tố viên, luật sư có cùng chương trình học và thi. Sau khi vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia lần 2, các ứng viên bắt đầu lựa chọn nghề cụ thể và thực tập để chuyên sâu cho nghề/ công việc đã lựa chọn.
Hai kỳ thi chức danh quốc gia chung cho các ứng viên trở thành luật sư, thẩm phán và công tố viên, trong đó tại Việt Nam, ba chức danh này có những kỳ thi tuyển riêng, mỗi ứng viên đều có định hướng rõ rang trước khi đăng ký thi tuyển, đặc biệt luật sư thuộc lĩnh vực tư, trong khi đó công tố viên và thẩm phán lại là người làm trong cơ quan nhà nước, do đó quy trình bổ nhiệm của những chức danh tư pháp cũng khác nhau. Công trình “The Chinese Characteristic’ of Clinical Legal Education” (Tạm dịch: Đặc điểm đào tạo luật thực hành ở Trung Quốc) [138] của Y.Pottenger đã chia sẻ nhiều điểm tương đồng về đào tạo luật tại Trung Quốc với nhiều quốc gia trên thế giới. Trung Quốc là quốc gia điển hình cho mô hình đào tạo riêng các chức danh Thẩm phán, Công tố viên, Luật sư. Điểm đặc biệt ở Trung Quốc là các chương trình đào tạo cử nhân cho thẩm phán, kiếm sát viên và luật sư.
Nói cách khác, thay vì đào tạo nghề ban đầu, ở Trung Quốc tổ chức đào tạo nghề cấp bằng cử nhân. Khoa Luật Đại học Bắc Kinh hiện đang có ba chương trình cấp bằng đại học dưới hình thức từ xa: một chương trình phối hợp với TANDTC Trung Quốc để tổ chức chương trình đào tạo bậc cử nhân cho các Thẩm phán. Về phương pháp đào tạo và tài liệu đào tạo của các chương trình này không có gì đặc biệt, cũng tương tự như các chương trình đào tạo cử nhân luật khác. Tuy nhiên điểm đặc biệt là trong các chương trình này ở Khoa Luật Đại học Bắc Kinh là có rất nhiều hội thảo về các chủ đề khác nhau.
Tỷ lệ các buổi học so với hội thảo thường vào khoảng 2/1 hoặc 3/2. Tóm lại, các công trình nêu trên đã tập trung phân tích về đào tạo luật 12 nói chung, đào tạo nghề Thẩm phán nói riêng tại một số quốc gia trên thế giới. Đối với đào tạo nghề Thẩm phán, các công trình chủ yếu đề cập đến quy trình đào tạo, đối tượng đào tạo, phương pháp đào tạo và thời gian đào tạo để trở thành Thẩm phán tại các quốc gia. Tuy có sự khác nhau về mô hình đào tạo nghề tư pháp song các quốc gia đều thống nhất ở mục tiêu hướng tới là làm thế nào để đào tạo được một đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp, bản lĩnh đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn.
Có thể khẳng định, mô hình đào tạo thẩm phán ở mỗi quốc gia sẽ là kinh nghiệm quý báu đối với mô hình đào tạo thẩm phán tại Việt Nam. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1. Các công trình nghiên cứu lý luận đào tạo Thẩm phán, Thẩm phán hình sự. * Nhóm công trình nghiên cứu về chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp nói chung, xây dựng đội ngũ Thẩm phán nói riêng Nguyễn Văn Quyền “Bàn về những nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” [71]; Phan Hữu Thư với bài viết: “Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh và đổi mới công tác đào tạo” [84]; Nguyễn Văn Huyên với bài “Nghiên cứu một số quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tuyển chọn cán bộ tư pháp” [47; tr.